Mười bốn năm ở rừng, cái Tết sâu đậm nhứt trong tôi, cũng như nhiều người thời ấy, là Tết Mậu Thân năm 1968. Tôi dự suốt trận đánh ấy, từ giữa năm 1967 đã được điều về khu Sài Gòn-Gia Định, dự các khóa tập huấn, tuy không được phổ biến cụ thể nhưng ai nấy đều cảm thấy sắp có trận đánh lớn có tính chất quyết định. Và lạ sao, như sau này được biết, bộ máy chiến tranh khổng lồ của quân Mỹ với dàn quân CIA thiện chiến không mảy may đánh hơi được chút nào về trận đánh, vậy mà người dân bình thường quanh thành phố đều cảm thấy được, từng cánh quân chúng tôi áp sát vào thành phố được người dân ở đây đón tiếp với thái độ chăm sóc đặc biệt khác thường.
Nguyễn Đặng Tường Vy vừa giành được giải nhì trong cuộc thi sáng tác thơ với chủ đề “Tôi đi tìm tôi” tổ chức trên tập san Áo Trắng. Nếu chỉ mỗi bài “Bởi có những mùa đi tìm cuộc sống” thì chưa thể nói lên điều gì về một cây bút nữ đang là học sinh lớp 12 Văn (Trường THPT Lương Văn Chánh, Phú Yên) nhưng chùm thơ 5 bài mà Nguyễn Đặng Tường Vy gửi đến lethieunhon.com ít nhiều có thể chứng minh một gương mặt mới thuộc thế hệ 9X đã xuất hiện. So với cây bút thơ từng thành danh khi còn mặc áo dài nữ sinh như Đinh Thu Hiền, Đường Hải Yến, Bình Nguyên Trang… thì Nguyễn Đặng Tường Vy ngổn ngang hơn qua những liên tưởng giàu trắc ẩn!
Nhà thơ Bùi Kim Anh hồi tưởng: “Chợ Hôm trước nhỏ thôi, nhưng cũng đủ mặt hàng. Chợ Mơ lúc đó vẫn còn chợ phiên. Đi chợ phiên nhiều hàng của cả người sản xuất mang bán. Mua chó mèo thì cũng phải chợ phiên mới có và có nhiều. Nhà tôi ở cuối phố Trần Quốc Toản. Bà đi bộ đến chợ Hôm đã xa, xuống chợ Mơ phải đi tàu điện. Với tôi thì được đi tàu điện thật thú vị. Ngồi cạnh bà, nắm chặt áo bà nhìn ngang xuống hai bên phố Huế rồi Bach Mai. Với tôi, cô bé học cấp 1 lúc đó như một chuyến đi xa đầy điều mới lạ. Hà Nội xưa nhỏ bé và tầm nhìn cũng gần gụi thôi. Phố xưa yên tĩnh nên được đi đến chợ Mơ ngày phiên là cả mơ ước. Bà mua nhiều thứ, còn tôi ngó đủ thứ. Bà ăn trầu thuốc nên mua những cây vỏ thật dày cùi và đỏ tía, mua chùm cau to tròn. Sau này khi bà không đi chợ xa được nữa tôi thường mua trầu cau cho bà. Tôi cũng chọn vỏ ngon lắm. Người bán cũng là người mua, thật vui”
Cuộc thi truyện ngắn Văn Nghệ Quân Đội kết thúc, tác giả Thuỵ Anh chỉ đoạt giải ba. Trong cuộc thi này hai truyện ngắn Lusia và Cây cải Tashkent lại „bay“ tới báo Văn nghệ và rơi vào Topten hai năm do Văn Nghệ tuyển chọn. Thật là đáng tiếc. Nói chung văn xuôi Thuỵ Anh không có nhân vật xấu để người đọc căm ghét. Dù ở bất cứ trạng thái sống nào, các nhân vật dẫu có dị tật bản năng hay dị tật sinh ra từ hoàn cảnh sống đều đáng thương, thậm chí có cả nét đáng yêu, như người dượng ở truyện cây cải cố gắng xoay chuyển, năng động kiếm tiền cho vợ con chả đáng yêu sao? Cuộc sống ở xứ người, cái ác của đồng loại, thậm chí của chính đồng bào mình không thiếu, tác giả cũng không né tránh nó, khi phản ánh điều ấy vào tác phẩm. Như chi tiết bọn Mafia Việt ở Cây cải Tashkent…Song ở Thuỵ Anh, hình như đào xới cái ác không phải chủ đích của chị (cũng là của nhiều nhà văn khác hiện nay). Các câu chuyện ở văn xuôi Thuỵ Anh, từ đoản văn tới các sáng tác dầy dặn ở cấp độ cao hơn, dầy công hơn, đều cố gắng đánh thức tính thiện của con người. Đọc Thuỵ Anh xong, dù có man mác buồn, người đọc vẫn thấy không quá bi quan.
Chỉ 80 trang, nhưng “Bản tường trình giấc mơ đi vắng” có thể dắt độc giả vào miền rung động sâu xa. Bằng thái độ hướng thiện mạnh mẽ, phẩm chất tri thức trẻ của Lê Thiếu Nhơn bật dậy những câu thơ vừa gần gũi vừa xa vắng: “Tôi kỳ lạ chính mình giữa loay hoay lạ kỳ. Sao cứ thấy bàn tay chụp giựt đè lên bàn tay cặm cụi? Lo cận thị cao độ, mỗi tuần tôi đo kính một lần. Người tốt bóng mờ bóng nhỏ vừa lầm lũi vừa vô tận trong mưa”. Những ai biết vun đắp cho xã hội, chắc chắn sẽ tìm thấy chính mình qua băn khoăn thẩm mỹ của tác giả: “Tôi rời khỏi chiếc ghế nhiều vết bụi hôm qua. Thấy ánh mắt kẻ gian quán xá ngạo nghễ. Thấy ánh mắt người ngay đường phố e dè. Thấy ánh mắt thánh nhân cửa đền thành khẩn. Bất giác nghe lòng tự hỏi lòng. Mấy trang bản thảo từ máy tính. Có đủ an ủi ngọn lửa không?”
Làm thơ theo mơ mộng là kiểu làm thơ của thời xa xưa, thời mà người ta thiếu thốn quá, nên nghĩ tới một chén rượu ngon, một miếng ăn ngon; ở cõi trần tục này gian khổ quá, người ta nghĩ đến một thế giới huyền ảo. Thơ bây giờ tồn tại trong hiện thực. Thơ thời càng hiện đại càng tồn tại trong hiện thực, cũng như ngôn ngữ thơ ngày càng gần với ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ văn xuôi chứ không tách ra, giữa ngôn ngữ đời thường với ngôn ngữ thơ là hai thế giới khác. Chuyện đó là của thời đã qua rồi. Cái mà ngày xưa gọi là mơ mộng ấy, bây giờ gọi là liên tưởng, dẫn từ một ý tưởng, từ một sự thực này đến một sự thực khác, từ cõi thực thăng hoa thành cái ảo. Và cái ảo đó trở lại tác động đến cõi thực, chứ không phải là mộng mơ theo kiểu những người làm thơ thời xa xưa.
Đạo diễn Đặng Nhật Minh sinh năm Mậu Dần 1938. Đón Tết Canh Dần thì ông lên lão 72 xuân. Dẫu ghét thế nào, dẫu yêu thế nào, cũng không thể phủ nhận Đặng Nhật Minh là một gương mặt tiêu biểu nhất của nghệ thuật thứ bảy Việt Nam từ ngày đất nước thống nhất đến nay. Và có thể càng ngày chúng ta sẽ càng thấy những tìm tòi ngôn ngữ điện ảnh của Đặng Nhật Minh là những gợi ý thuyết phục cho hành trình hội nhập quốc tế. Thế nhưng, ngoảnh lại sự nghiệp của Đặng Nhật Minh mới hay ông làm phim như một định mệnh!





