Hiện tại kinh phí dàn dựng giữa sân khấu nhà nước và sân khấu tư nhân đều ngang nhau ở mức 300-400 triệu cho mỗi vở diễn. Ba vở diễn lấy đề tài lịch sử khiến người xem thích mắt là “Ngàn năm tình sử” của sân khấu IDECAF và “Nỏ thần” của sân khấu Phú Nhuận không thua kém gì khi đặt cạnh “Mỹ nhân và anh hùng” của Nhà hát Tuổi Trẻ. Và có lẽ đây là ba vở diễn đáng lưu ý nhất trong năm 2009 với nhiều điều nên được đánh giá một cách sòng phẳng. “Ngàn năm tình sử” muốn đưa ra một cách nhìn khác về danh tướng Lý Thường Kiệt, còn “Mỹ nhân và anh hùng” muốn phác thảo rõ nét chân dung nữ vương Lý Chiêu Hoàng, nhưng chỉ dừng ở góc độ miêu tả lịch sử, chứ chưa đủ khơi dậy tâm thức hiện đại. Khi xem bất kỳ vở kịch lịch sử nào, thì điều khán giả nung nấu chờ đợi nhất là những diễn ngôn rúng động tâm can người đương thời. Dù hai nhà viết kịch Nguyễn Quang Lập và Chu Thơm đã dồn nhiều nhiệt huyết mỗi nhân vật, nhưng “Ngàn năm tình sử” lẫn “Mỹ nhân và anh hùng” chỉ mới có được những đối đáp chớp nhoáng lý giải mâu thuẫn mà thôi! Còn vở kịch “Nỏ thần” không những không có diễn ngôn mà còn trống trải cả những cảm thức mới mẻ cần thiết của một tác phẩm sân khấu ngoảnh lại quá khứ. Nhiều trường đoạn của “Nỏ thần” chẳng khác gì hoạt cảnh minh họa cho truyền thuyết thành Cổ Loa!
Đạo diễn Đặng Nhật Minh sinh năm Mậu Dần 1938. Đón Tết Canh Dần thì ông lên lão 72 xuân. Dẫu ghét thế nào, dẫu yêu thế nào, cũng không thể phủ nhận Đặng Nhật Minh là một gương mặt tiêu biểu nhất của nghệ thuật thứ bảy Việt Nam từ ngày đất nước thống nhất đến nay. Và có thể càng ngày chúng ta sẽ càng thấy những tìm tòi ngôn ngữ điện ảnh của Đặng Nhật Minh là những gợi ý thuyết phục cho hành trình hội nhập quốc tế. Thế nhưng, ngoảnh lại sự nghiệp của Đặng Nhật Minh mới hay ông làm phim như một định mệnh!
Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc đau xót “có nhà báo của ta trên báo Văn hoá thể thao còn ví pianist Clayderman nhân dịp anh ta sang biểu diễn ở TP HCM với Beethoven (?!) quả là một điều khôi hài có thật”, còn đạo diễn Đặng Nhật Minh chua chát: “Một nhà phê bình phim kể với tôi câu chuyện sau: Anh có cô con gái , nối nghiệp cha, học khoa phê bình điện ảnh. Ra trường anh xin cho con vào làm tại một toà báo có uy tín, phụ trách mảng điện ảnh. Anh phấn khởi thấy các bài viết của con mình ngày càng sâu sắc, hy vọng có thể thành một cây bút phê bình điện ảnh có uy tín. Nào ngờ một thời gian sau cô gái được Tổng biên tập gọi lên trao cho một nhiệm vụ khác: phụ trách mảng pháp luật của tờ báo với lý do sau một thời gian làm việc có tín nhiệm, cô nên đảm trách một công việc quan trọng hơn. Phần việc theo dõi điện ảnh để dành cho một phóng viên trẻ mới được toà soạn nhận vào làm!”
Ở tuổi 83, Phan Vũ mở cuộc triển lãm cá nhân tại phòng tranh Tự Do – TPHCM khiến công chúng vừa ngạc nhiên vừa thú vị. Ngạc nhiên vì sự yêu đời của Phan Vũ và thú vị vì đường nét trẻ trung của Phan Vũ.
Lấy tên gọi “Giai điệu màu”, Phan Vũ bước vào sân chơi mỹ thuật bằng tâm tư: “Tôi muốn kéo những bức tranh của tôi đến gần những bài thơ của tôi. Một cái gì như một chút bi tráng tự sự với những màu sắc rực rỡ, đối lập, nhưng lại có độ trầm tạo thành nỗi buồn dịu êm”. Thật vậy, bài thơ dài “Em ơi, Hà Nội phố” của Phan Vũ do Phú Quang phổ nhạc, đã quen thuộc với giới mộ điệu, thì một ý thơ “Dương cầm trong căn nhà đổ” cũng được Phan Vũ biến thành một tác phẩm hội họa.
Phan Vũ tài hoa và đa tình. Phan Vũ làm thơ, làm báo, viết kịch, đạo diễn rồi dừng lại cảm xúc bên giá vẽ với người vợ hiện tại làm nguồn hứng khởi tươi non. Phải chăng đó cũng là đoạn kết mỹ mãn giống như những lời Phan Vũ ghi trên bức chân dung tự họa: “Thời gian ghi những dấu riêng cho từng khuôn mặt, rồi xóa đi như một chối từ…”?





