Xin lỗi, đó chỉ là tạp kỹ!


[Vào lúc : 13:23 - 10/06/2010 | Chuyện mục : Ngã bảy nghệ thuật]
Cái màn hình lớn giữa sân khấu được xem như một đột phá của vở kịch “Xin lỗi em chỉ là…”. Điều ấy cần phải đắn đo một chút, bởi lẽ những hình ảnh được trình chiếu ngỡ góp thêm sức hấp dẫn cho tình huống, chỉ phá hỏng đặc tính kịch nghệ mà thôi. Sự cô đọng của sân khấu luôn mang lại sự gợi mở cho khán giả. Nội dung “Xin lỗi em chỉ là” nằm ở trắc ẩn định mệnh, phải dùng ánh sáng và âm nhạc mới có thể giúp diễn viên bộc lộ niềm riêng nhân vật. Đằng này, màn hình lại hiện lên con hổ hay con rắn để diễn tả thêm về kẻ ác lộng hành, là một ý tưởng hơi…hồn nhiên. Hãy nhớ rằng “ngoài chưng mọi chốn đều thông hết, bui một lòng người cực hiểm thay”. Hình ảnh thú dữ vồ mồi không thể nói hết sóng gió bủa vây một mảnh đời đau khổ! Và một khi, thủ pháp dàn dựng không tạo nên chiều sâu sân khấu và không tăng thêm ấn tượng vai diễn thì sẽ quay ngược lạc tố cáo sự hạn chế bản lĩnh nghệ thuật. Khán giả đến rạp để thương xót nhân vật Hạ Âu như những người muốn uống trà thảo mộc, mà ê-kíp thực hiện “Xin lỗi em chỉ là” lại rót cho họ…nước ngọt có gas!

Hội nghệ sĩ Sân khấu VN vừa tiến hành trao giải thưởng thường niên của Hội cho các vở diễn và kịch bản năm 2009. So với các năm trước, năm nay, với một Ban chấp hành mà cơ cấu có nhiều sự đổi mới, việc tổ chức trao giải có phần hoành tráng hơn. Nói như vậy bởi lễ trao giải thưởng năm nay đã vượt khỏi khuôn khổ của phòng họp Hội liên hiệp văn học nghệ thuật, 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội mà "làng" sân khấu đã đưa nhau ra tôn vinh ở Trung tâm văn hoá nghệ thuật VN, số 2 Hoa Lư, Hà Nội. Có các cô văn công yếm thắm má hồng đón chào khách, có hẳn chương trình văn nghệ "cây nhà lá vườn" nhưng là của các nghệ sĩ sân khấu chuyên nghiệp hẳn hoi. Khán phòng rộng rãi và khách được mới tới dự cũng đông vui hơn mọi năm. Và người ta có muôn vàn lý do để đổ lỗi cho sân khấu chưa lôi kéo được khán giả, nào là do yêu cầu về chính trị, nào là cơ sở vật chất nghèo nàn hạn chế những điều chúng ta mong muốn, nào là giao thông tắc nghẽn nên người ta ngại ra đường thay vì ngồi nhà xem tivi...

Nữ sĩ tạo nền móng cho nghệ thuật ca Huế


[Vào lúc : 11:44 - 26/03/2010 | Chuyện mục : Ngã bảy nghệ thuật]
Mai Am công chúa, tên đầy đủ là Mai Am Trinh Thận (1826-1904), là con thứ 25 của vua Minh Mạng. Trong sử sách, bà được biết đến là một trong những thi sĩ tạo nền móng cho dòng nhạc mới ‘Ca Huế’ ở đất Cố đô. Trong xã hội nho giáo thời bấy giờ, nhất là những ai được liệt vào hàng “đức cao vọng trọng” hoặc sống trong cảnh lễ giáo uy nghiêm thì rất kiêng những sáng tác về tình yêu. Tuy nhiên, vượt qua khỏi lễ giáo phong kiến, bà quyết đi đến với một thể loại nghệ thuật ca hát nói về tình yêu. Những lời thơ bà viết sau này đã trở thành nền tảng cho loại hình ca Huế bây giờ. Chẳng hạn, bài Tiếng chuông, Mai Am đã sử dụng thơ quốc âm để viết nên những ca từ: “Chào khách tiếng chim ngoài cửa/ Thoạt nhớ một người những bữa/ Xoắn xuýt giống tơ vò/ Cho biết mối tình là ra rứa/ Chan chứa, chan chứa/ Mòn mỏi mặt trăng hơn nữa”.

Sân khấu Việt trước thử thách kép


[Vào lúc : 11:11 - 10/02/2010 | Chuyện mục : Ngã bảy nghệ thuật]

Hiện tại kinh phí dàn dựng giữa sân khấu nhà nước và sân khấu tư nhân đều ngang nhau ở mức 300-400 triệu cho mỗi vở diễn. Ba vở diễn lấy đề tài lịch sử khiến người xem thích mắt là “Ngàn năm tình sử” của sân khấu IDECAF và “Nỏ thần” của sân khấu Phú Nhuận không thua kém gì khi đặt cạnh “Mỹ nhân và anh hùng” của Nhà hát Tuổi Trẻ. Và có lẽ đây là ba vở diễn đáng lưu ý nhất trong năm 2009 với nhiều điều nên được đánh giá một cách sòng phẳng. “Ngàn năm tình sử” muốn đưa ra một cách nhìn khác về danh tướng Lý Thường Kiệt, còn “Mỹ nhân và anh hùng” muốn phác thảo rõ nét chân dung nữ vương Lý Chiêu Hoàng, nhưng chỉ dừng ở góc độ miêu tả lịch sử, chứ chưa đủ khơi dậy tâm thức hiện đại. Khi xem bất kỳ vở kịch lịch sử nào, thì điều khán giả nung nấu chờ đợi nhất là những diễn ngôn rúng động tâm can người đương thời. Dù hai nhà viết kịch Nguyễn Quang Lập và Chu Thơm đã dồn nhiều nhiệt huyết mỗi nhân vật, nhưng “Ngàn năm tình sử” lẫn “Mỹ nhân và anh hùng” chỉ mới có được những đối đáp chớp nhoáng lý giải mâu thuẫn mà thôi! Còn vở kịch “Nỏ thần” không những không có diễn ngôn mà còn trống trải cả những cảm thức mới mẻ cần thiết của một tác phẩm sân khấu ngoảnh lại quá khứ. Nhiều trường đoạn của “Nỏ thần” chẳng khác gì hoạt cảnh minh họa cho truyền thuyết thành Cổ Loa!

ĐẶNG NHẬT MINH làm phim như một định mệnh


[Vào lúc : 14:28 - 06/02/2010 | Chuyện mục : Ngã bảy nghệ thuật]

Đạo diễn Đặng Nhật Minh sinh năm Mậu Dần 1938. Đón Tết Canh Dần thì ông lên lão 72 xuân. Dẫu ghét thế nào, dẫu yêu thế nào, cũng không thể phủ nhận Đặng Nhật Minh là một gương mặt tiêu biểu nhất của nghệ thuật thứ bảy Việt Nam từ ngày đất nước thống nhất đến nay. Và có thể càng ngày chúng ta sẽ càng thấy những tìm tòi ngôn ngữ điện ảnh của Đặng Nhật Minh là những gợi ý thuyết phục cho hành trình hội nhập quốc tế. Thế nhưng, ngoảnh lại sự nghiệp của Đặng Nhật Minh mới hay ông làm phim như một định mệnh!

Quán vắng khách. Ánh đèn sáng vừa đủ, chúng tôi vẫn nhận rõ một cô gái ngồi trầm ngâm bên tách cà phê góc phòng, Cô gái với khuôn mặt đẹp và buồn. Có thể chúng tôi ào vào quán với niềm hứng khởi, nên cô gái chú ý chăng?  Bản nhạc của Trịnh Công Sơn phát ra từ chiếc đài cát-sét. Lời bản nhạc như lời thánh ca xa xăm. Cô gái vẫn ngồi lặng lẽ. Không ai nói với ai câu nào, nhưng  cùng  ý nghĩ, không nên làm gợn cái không khí thanh sạch và u buồn trong phòng. Cảm hứng ùa đến, Bùi Quang Ngọc vội rút cuốn sổ  trong túi ra vẽ. Anh vẽ trong ánh sáng mờ mờ, vẽ con đường có bóng ô che, vẽ khuôn mặt người nhòa trong sương, vẽ con đường xa xăm không biết dẫn về đâu. Cô gái vẫn ngồi  như không hề nhúc nhích. Tách cà-phê trên tay cô chợt rơi xuống nền nhà  vỡ tan. Người bán hàng nhẹ  tới, cô gái khẽ nói lời xin lỗi, rồi lặng lẽ ra ngoài đường...

Người Việt yêu tranh không phải nhiều, người Việt yêu tranh đến mức trở thành nhà sưu tập càng ít hơn. Bên cạnh những nhà sưu tập đã thành danh hiếm hoi, gần đây công chúng chú ý đến Lê Thái Sơn bởi anh đã cất công tìm kiếm được nhiều tác phẩm hội họa hình thành trong chiến tranh. Lẽ thường, loại tranh này dẫu có tiền cũng không dễ mua. Bằng sự nhiệt tình và lòng yêu mỹ thuật của mình, Lê Thái Sơn đã thuyết phục được các họa sĩ cũng như thân nhân của họ. Từng bức họa chiến trường được cẩn thận mang về phòng tranh và được nâng niu như tâm huyết của chính chủ phòng tranh. Với hơn 300 bức họa chiến tranh, rõ ràng tiền bạc và công sức Lê Thái Sơn bỏ ra không phải ít.

Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc đau xót  “có nhà báo của ta trên báo Văn hoá thể thao còn ví pianist Clayderman nhân dịp anh ta sang biểu diễn ở TP HCM với Beethoven (?!) quả là một điều khôi hài có thật”, còn đạo diễn Đặng Nhật Minh chua chát: “Một nhà phê bình phim kể với tôi câu chuyện sau: Anh có cô con gái , nối nghiệp cha, học khoa phê bình điện ảnh. Ra trường anh xin cho con vào làm tại một toà báo có uy tín, phụ trách mảng điện ảnh. Anh phấn khởi thấy các bài viết của con mình ngày càng sâu sắc, hy vọng có thể thành một cây bút phê bình điện ảnh có uy tín. Nào ngờ một thời gian sau cô gái được Tổng biên tập gọi lên trao cho một nhiệm vụ khác: phụ trách mảng pháp luật của tờ báo với lý do sau một thời gian làm việc có tín nhiệm, cô nên đảm trách một công việc quan trọng hơn. Phần việc theo dõi điện ảnh để dành cho một phóng viên trẻ  mới được toà soạn nhận vào làm!” 

PHAN VŨ phiêu lãng Giai Điệu Màu


[Vào lúc : 11:27 - 10/08/2009 | Chuyện mục : Ngã bảy nghệ thuật]

Ở tuổi 83, Phan Vũ mở cuộc triển lãm cá nhân tại phòng tranh Tự Do – TPHCM khiến công chúng vừa ngạc nhiên vừa thú vị. Ngạc nhiên vì sự yêu đời của Phan Vũ và thú vị vì đường nét trẻ trung của Phan Vũ.
Lấy tên gọi “Giai điệu màu”, Phan Vũ bước vào sân chơi mỹ thuật bằng tâm tư: “Tôi muốn kéo những bức tranh của tôi đến gần những bài thơ của tôi. Một cái gì như một chút bi tráng tự sự với những màu sắc rực rỡ, đối lập, nhưng lại có độ trầm tạo thành nỗi buồn dịu êm”. Thật vậy, bài thơ dài “Em ơi, Hà Nội phố” của Phan Vũ do Phú Quang phổ nhạc, đã quen thuộc với giới mộ điệu, thì một ý thơ “Dương cầm trong căn nhà đổ” cũng được Phan Vũ biến thành một tác phẩm hội họa.
Phan Vũ tài hoa và đa tình. Phan Vũ làm thơ, làm báo, viết kịch, đạo diễn rồi dừng lại cảm xúc bên giá vẽ với người vợ hiện tại làm nguồn hứng khởi tươi non. Phải chăng đó cũng là đoạn kết mỹ mãn giống như những lời Phan Vũ ghi trên bức chân dung tự họa: “Thời gian ghi những dấu riêng cho từng khuôn mặt, rồi xóa đi như một chối từ…”?


Một thành viên trong Ban tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, tuyên bố với truyền thông, là phim “Thái Tổ Lý Công Uẩn” sẽ được làm phim truyền hình nhiều tập, thế chỗ phim “Trần Thủ Độ”- được giãn tiến độ vì sự cố diễn viên bỏ vai, phim sẽ được “xã hội hóa” không lấy tiền Nhà nước. Nhưng chưa đầy nửa ngày, trên một số báo điện tử đã có lời phát biểu của đại diện một hãng phim của Nhà nước nói không phải làm phim truyền hình “Thái Tổ Lý Công Uẩn”, mà là một dự án phim điện ảnh hòan tòan khác, mang tên “Chiếu dời đô”, kịch bản của một tác giả ít ai biết, đã được “âm thầm” chuẩn bị bằng tiền tài trợ của tư nhân, để tránh sự mất thời gian qua khâu kiểm duyệt kịch bản của Hội đồng duyệt phim…

Phân trang 1/7 Trang đầu 1 2 3 4 5 6 7 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất