Ông Nguyễn Trần Bạt năm nay 64 tuổi, đang giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc InvestConsult Group. Vài năm gần đây ông được xem như một người có nhiều ý  nghĩ mới mẻ qua các cuốn sách “Văn hóa và con người”, “Cải cách và sự phát triển”, “Suy tưởng”, “Cội nguồn cảm hứng” gây nhiều tranh cãi khác nhau. Vừa hết Tết Canh Dần 2010, trong làng sách lại xuất hiện thêm cuốn “Đối thoại với tương lai” tập hợp những bài phỏng vấn Nguyễn Trần Bạt, do NXB Hội Nhà Văn ấn hành. “Đối thoại với tương lai” dày 940 trang, bìa cứng, in giấy đẹp, giá bán 250 ngàn đồng. Cầm “Đối thoại với tương lai” trên tay  thì biết ngay là ấn phẩm của một doanh nhân thành đạt. Tuy nhiên, trong “Đối thoại với tương lai” cũng có khá nhiều trang đề cập đến văn chương, ví dụ ông Nguyễn Trần Bạt khảng khái: “Tôi đi nhiều nước, tôi thấy các nhà văn nước ngoài cũng bụi bặm, đôi khi bê tha, rệu rã và nghèo đói như chúng ta. Nhưng cái khổ của cá nhân họ lại nằm trong một cộng đồng chói sáng, cho nên họ là những kẻ khuân vác những giá trị của xã hội ấy để trình bán cho thiên hạ, còn chúng ta thì khuân vác những giá trị ấy từ đâu? Các nhà văn là những người khuân vác những giá trị mà xã hội có để lắp nó lại thành một kết cấu có giá trị có thể bán được. Vậy các nhà văn của chúng ta khuân vác những thứ gì? Thực ra các nhà văn của chúng ta khuân vác những thứ có giá ở nơi khác đến Việt Nam cho nên, với tư cách là một độc giả đã đọc nhiều văn học nước ngoài, khi đọc các tác phẩm của Việt Nam tôi thấy nhiều người quen, phải gật đầu chào nhiều quá.”

Cuộc thi thơ Đồng bằng Sông Cửu Long vừa kết thúc với nhiều tác phẩm được vinh danh chỉ có thể xếp vào loại thường thường bậc trung. Thế nhưng, kỳ lạ thay, cuộc thi này bỗng dưng được chú ý vì… ban tổ chức quyết định thu hồi giải nhất dành cho bài thơ “Trăng nghẹn”. Thành thật mà nói, tác giả Hoài Tường Phong viết “Trăng nghẹn” không khác gì một cái tạp bút có ngắt xuống dòng. Ở đó có một chút xót xa, một chút đắng đót từ tâm trạng một người gắn bó và trân trọng mảnh đất phù sa miền Tây Nam bộ. Vậy thôi, chưa có câu thơ này đủ sức bay ra khỏi ngổn ngang chữ nghĩa “Trăng nghẹn” để rung cảm độc giả. Chắng ai dám tiêu liệu, sau khi rời khỏi buổi trao giải, sức sống của bài thơ “Trăng nghẹn” sẽ ra sao. Vậy mà, nhờ bị lấy lại giải nhất, “Trăng nghẹn” lại được nhiều người nhắc đến râm ran. Chẳng biết nên vui hay nên buồn?

Những câu thơ Hoàng Việt Hằng viết ra hầu như không chứng minh một sự tìm tòi chữ nghĩa nào, mà chỉ nhằm khám phá mỗi hồn người dẫu đơn sơ và hiu hắt bước qua cuộc sống này cũng để lại bao nhiêu bùi ngùi rung cảm. Chị xao xác “Tính” dùm người phụ nữ nông thôn tên Thứ một phép toán đầy chua chát giữa kẻ ăn không hết người lần không ra thời kinh tế thị trường: “Nếu tôi không ngủ ở khách sạn năm sao một đêm/ Đỡ cho chị Thứ một năm không ra làm đồng”. Nhiều nỗi khắc khoải như vậy, cứ trải dài trong thơ Hoàng Việt Hằng, rất khó phân biệt chị viết cho thiên hạ hay khóc cho bản thân. Ưu điểm thơ Hoàng Việt Hằng nằm ở sự chân thành, chân thành quan sát, chân thành gánh vác và chân thành dày vò. Tôi nghĩ, trong xã hội chen lấn với nhiều thứ giả tạo vây bọc chúng ta, thì sự chân thành đã là một giá trị để thi ca gắn bó lặng lẽ với cõi nhân gian!

Lang bạt hai mươi năm, gã không để làm thơ mà để tầm thi thiên hạ. Gàn! Và rồi cái thu hoạch của gã từ những chuyến đi, từ chặng đời sống chết với thơ ca ấy là gì? Có trời mới biết. Người tử tế thì bảo: Thôi thì có tâm có tình với di sản thơ ca Việt, thì rồi trước sau gì cũng có phúc có lộc. Kẻ độc mồm bảo: Dở hơi. Người đa nghi thì bảo gã kiếm bộn đấy! Tôi hoài nghi tất cả. Nhưng tôi tin là gã hạnh phúc vì gã thoả mãn được cái ham mê của mình. Mà theo định nghĩa trong từ điển thì đúng là lão đang hạnh phúc. Vâng! Gã còn thu hoạch được thêm gì nữa không, thì chịu. Có cái tình bè bạn đâu đó. Có cái yêu mến của độc giả thần tượng đâu đó có giời biết. Nhưng cái chí tang bồng thì gã thừa. Vậy là sướng rồi. Tôi đồ rằng trên đời này, bây giờ đố có ai bỏ một phần đời đi sưu tầm thơ ca Việt rồi về sắp xếp, chọn lọc, thẩm định rồi đi vay tiền, in ra những tuyển tập đồ sộ cỡ… kỷ lục thế giới như Gia Dũng

Thú nhàn và sự gặp gỡ của cái tâm


[Vào lúc : 11:16 - 21/02/2010 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]
Nguyễn Bỉnh Khiêm ra đời sau cái chết oan khuất của Nguyễn Trãi gần nửa thế kỷ. Cũng lại tới gần nửa thế kỷ sau ông mới đi thi, đỗ ngay trạng nguyên triều Mạc Đăng Doanh. Những tưởng được đem tài học giúp đời, nhưng tiếc thay sở nguyện của ông chẳng thành. Ông dâng tấu xin vua chém đủ mười tám tên lộng thần tham nhũng, nhưng không được vua nghe theo. Trạng Trình liền cáo quan về thẳng, không mảy may băn khoăn luyến tiếc. Điểm này thì ông có phần hơi khác với ức Trai. Ông tự vui với thú nhàn, với tự do tự tại: “Một mai, một cuốc, một cần câu. Thơ thẩn, dầu ai vui thú nào”. Rồi ông tự xem mình là kẻ dại khờ. Ông đem cái dại cái khờ cái ngu của mình mà đối lập với cái khôn cái ngoan cái khéo của người đời: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn, người đến chốn lao xao”

Tình duyên NGUYỄN NGỌC KÝ


[Vào lúc : 17:56 - 15/02/2010 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]

Tình trong như đã, mà mặt ngoài chưa yên, bố của cô Nhiễu kiên quyết từ chối, khi nghe tin cô gái định lấy Nguyễn Ngọc Ký. Một người bạn thân tên là Cách vừa chở Nguyễn Ngọc Ký đến đầu ngõ thì bố của cô Nhiễu đã xua tay: “Không ai hoan nghênh. Ở đây không có Ký - Cách gì hết!”. Vừa buồn vừa tủi, Nguyễn Ngọc Ký than thở với nhà thơ Đoàn Văn Cừ. Vốn là hàng xóm của gia đình cô Nhiễu, nhà thơ Đoàn Văn Cừ khảng khái: “Cháu cứ yên tâm, để bác nói cho!”. Kéo bố của cô Nhiễu sang nhà uống rượu, “thi nhân Việt Nam” nức danh với bài thơ “Chợ Tết” mềm mỏng giải bày: “Người đời, ai cũng chết, chỉ có nhà thơ không chết, ông ạ! Cậu ấy tuy thua thiệt, nhưng là nhà thơ đấy! Hơn nữa, tên cậu ấy là Ngọc Ký, có nghĩa chữ viết trên đá quý giá. Chúng ta tuy viết bằng tay, nhưng chữ của chúng ta không thể có nhiều người muốn xin bằng chữ của cậu ấy viết bằng chân!”. Nể uy nhà thơ Đoàn Văn Cừ và nghe cũng xuôi tai, bố của cô Nhiễu đồng ý cho tổ chức đám cưới.

Tác phẩm Tắt Đèn vừa ra đời, đã có hai ông Nghị tự xưng là nguyên mẫu Nghị Quế. Ông Nghị Quế ở tỉnh Phúc Yên cho rằng: “Đích thị cha Tố nói tôi chứ còn ai. Tôi là Nghị Sâm, trong sách nói trẹo thành Nghị Quế. Còn vụ mua con nhà Thân, trong sách đổi thành Dậu…”, còn ông Nghị Thế ở tỉnh Bắc Ninh nhờ luật sư dằn mặt nhà xuất bản: “Chuyện nhà ông Nghị Thế cho vay nặng lãi là có, chuyện thỉnh thoảng đánh nông dân cũng có, nhưng đó là em gái ông Thế trực tiếp. Bà Nghị trong truyện có thân hình mập mạp là em gái ông Thế, còn vợ ông Thế dân Hà Nội, người mảnh mai, đẹp có tiếng Bắc Ninh, lại thường xuyên ở với ông Thế trên tỉnh không dính gì tới nhà quê. Chuyện mua bán con như trong truyện không hề xảy ra”.

Một người ưa ngẫm ngợi như nhà văn Trang Thế Hy thì tránh sao khỏi những phút chạnh lòng. Ông tự nhủ, trang giấy trước mặt ông và xã hội xung quanh ông được nối bằng một sợi chỉ hồng. Ông mượn lời một cô gái có người yêu là nhà thơ để an ủi nỗi đau “Bứt đứt sợi chỉ hồng” theo ngậm ngùi xô đẩy: “Hồi mình mới yêu nhau, cây kéo kiểm duyệt tạm trú trong đầu anh như khách không mời mà đến, chỉ thỉnh thoảng nó mới e dè cắt bỏ một vài bông hoa tư duy nhỏ nở ra trên trang viết của anh” rồi diễn tiến dằng dai “Bây giờ cây kéo kiểm duyệt không phải là khách, nó có hộ khẩu thường trú trong trái tim anh. Trước sự dửng dưng vô cảm của anh, nó cắt xén không thương tiếc những bông hoa cảm nghĩ  của anh, kể cả những búp chưa kịp nở” và cuối cùng đành đoạn lau khô một cơn mê cũ: “Khi cây kéo kiểm duyệt không còn gì để cắt xén nữa. Trước sự vô hồn trần trụi của bản thân anh, nó sẽ cắt đến sợi chỉ hồng đã gắn bó đôi ta do bàn tay xe duyên của bà Nguyệt ông Tơ. Em thương sợi chỉ quá, nhưng đành bứt đứt nó bằng chính tay em”.

LÊ VĂN THẢO và Tết ở rừng


[Vào lúc : 11:53 - 09/02/2010 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]

Mười bốn năm ở rừng, cái Tết sâu đậm nhứt trong tôi, cũng như nhiều người thời ấy, là Tết Mậu Thân năm 1968. Tôi dự suốt trận đánh ấy, từ giữa năm 1967 đã được điều về khu Sài Gòn-Gia Định, dự các khóa tập huấn, tuy không được phổ biến cụ thể nhưng ai nấy đều cảm thấy sắp có trận đánh lớn có tính chất quyết định. Và lạ sao, như sau này được biết, bộ máy chiến tranh khổng lồ của quân Mỹ với dàn quân CIA thiện chiến không mảy may đánh hơi được chút nào về trận đánh, vậy mà người dân bình thường quanh thành phố đều cảm thấy được, từng cánh quân chúng tôi áp sát vào thành phố được người dân ở đây đón tiếp với thái độ chăm sóc đặc biệt khác thường.

Bằng trải nghiệm của một người từng ở trong Ban chấp hành Hội nhà văn VN, nhà văn Ma Văn Kháng nhìn nhận về vấn đề kết nạp hội viên mới: “Điện thoại liên tục và những cuộc gặp gỡ mời chào các ủy viên các Hội đồng, các Ban và Ban chấp hành diễn ra khá tấp nập. Thậm chí còn không ít quà cáp biếu xén. Tất nhiên chẳng nhiều nhặn gì. Một chai sâm banh, một chục cam, một bữa bia chẳng hạn. Anh em tha thiết với việc vào Hội quá. Và thật ra, những cử chỉ này cũng chẳng đáng gọi là tiêu cực, nó thể hiện cái thịnh tình, cái nôn nao thái quá. Nhưng tôi đã có lần được đương sự công khai dúi vào túi áo 300.000 đồng, 500.000 đồng. Cũng có lần tôi nhận được quà tặng là một tấm vé máy bay mời vào Sài Gòn chơi, trị giá hơn một triệu đồng. Nghe đây đó chuyện: Anh ấy anh nọ đã có phong bì đầy đủ cho các ủy viên Hội đồng Thơ và Ban Chấp hành, nhà văn này nhà văn kia vừa biếu hộp sâm Triều tiên, lạng cao hổ cho ủy viên này ủy viên khác để xin phiếu bầu, không hiểu thực hư là thế nào? Nhưng cứ như người trần mắt thịt cũng thấy, danh sách hội viên mới lần nào cũng có vài cái tên lạ hoắc, chưa hề có tác phẩm nào đáng gọi là văn học”

Phân trang 1/40 Trang đầu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất