Tình trong như đã, mà mặt ngoài chưa yên, bố của cô Nhiễu kiên quyết từ chối, khi nghe tin cô gái định lấy Nguyễn Ngọc Ký. Một người bạn thân tên là Cách vừa chở Nguyễn Ngọc Ký đến đầu ngõ thì bố của cô Nhiễu đã xua tay: “Không ai hoan nghênh. Ở đây không có Ký - Cách gì hết!”. Vừa buồn vừa tủi, Nguyễn Ngọc Ký than thở với nhà thơ Đoàn Văn Cừ. Vốn là hàng xóm của gia đình cô Nhiễu, nhà thơ Đoàn Văn Cừ khảng khái: “Cháu cứ yên tâm, để bác nói cho!”. Kéo bố của cô Nhiễu sang nhà uống rượu, “thi nhân Việt Nam” nức danh với bài thơ “Chợ Tết” mềm mỏng giải bày: “Người đời, ai cũng chết, chỉ có nhà thơ không chết, ông ạ! Cậu ấy tuy thua thiệt, nhưng là nhà thơ đấy! Hơn nữa, tên cậu ấy là Ngọc Ký, có nghĩa chữ viết trên đá quý giá. Chúng ta tuy viết bằng tay, nhưng chữ của chúng ta không thể có nhiều người muốn xin bằng chữ của cậu ấy viết bằng chân!”. Nể uy nhà thơ Đoàn Văn Cừ và nghe cũng xuôi tai, bố của cô Nhiễu đồng ý cho tổ chức đám cưới.
Tác phẩm Tắt Đèn vừa ra đời, đã có hai ông Nghị tự xưng là nguyên mẫu Nghị Quế. Ông Nghị Quế ở tỉnh Phúc Yên cho rằng: “Đích thị cha Tố nói tôi chứ còn ai. Tôi là Nghị Sâm, trong sách nói trẹo thành Nghị Quế. Còn vụ mua con nhà Thân, trong sách đổi thành Dậu…”, còn ông Nghị Thế ở tỉnh Bắc Ninh nhờ luật sư dằn mặt nhà xuất bản: “Chuyện nhà ông Nghị Thế cho vay nặng lãi là có, chuyện thỉnh thoảng đánh nông dân cũng có, nhưng đó là em gái ông Thế trực tiếp. Bà Nghị trong truyện có thân hình mập mạp là em gái ông Thế, còn vợ ông Thế dân Hà Nội, người mảnh mai, đẹp có tiếng Bắc Ninh, lại thường xuyên ở với ông Thế trên tỉnh không dính gì tới nhà quê. Chuyện mua bán con như trong truyện không hề xảy ra”.
Một người ưa ngẫm ngợi như nhà văn Trang Thế Hy thì tránh sao khỏi những phút chạnh lòng. Ông tự nhủ, trang giấy trước mặt ông và xã hội xung quanh ông được nối bằng một sợi chỉ hồng. Ông mượn lời một cô gái có người yêu là nhà thơ để an ủi nỗi đau “Bứt đứt sợi chỉ hồng” theo ngậm ngùi xô đẩy: “Hồi mình mới yêu nhau, cây kéo kiểm duyệt tạm trú trong đầu anh như khách không mời mà đến, chỉ thỉnh thoảng nó mới e dè cắt bỏ một vài bông hoa tư duy nhỏ nở ra trên trang viết của anh” rồi diễn tiến dằng dai “Bây giờ cây kéo kiểm duyệt không phải là khách, nó có hộ khẩu thường trú trong trái tim anh. Trước sự dửng dưng vô cảm của anh, nó cắt xén không thương tiếc những bông hoa cảm nghĩ của anh, kể cả những búp chưa kịp nở” và cuối cùng đành đoạn lau khô một cơn mê cũ: “Khi cây kéo kiểm duyệt không còn gì để cắt xén nữa. Trước sự vô hồn trần trụi của bản thân anh, nó sẽ cắt đến sợi chỉ hồng đã gắn bó đôi ta do bàn tay xe duyên của bà Nguyệt ông Tơ. Em thương sợi chỉ quá, nhưng đành bứt đứt nó bằng chính tay em”.
Mười bốn năm ở rừng, cái Tết sâu đậm nhứt trong tôi, cũng như nhiều người thời ấy, là Tết Mậu Thân năm 1968. Tôi dự suốt trận đánh ấy, từ giữa năm 1967 đã được điều về khu Sài Gòn-Gia Định, dự các khóa tập huấn, tuy không được phổ biến cụ thể nhưng ai nấy đều cảm thấy sắp có trận đánh lớn có tính chất quyết định. Và lạ sao, như sau này được biết, bộ máy chiến tranh khổng lồ của quân Mỹ với dàn quân CIA thiện chiến không mảy may đánh hơi được chút nào về trận đánh, vậy mà người dân bình thường quanh thành phố đều cảm thấy được, từng cánh quân chúng tôi áp sát vào thành phố được người dân ở đây đón tiếp với thái độ chăm sóc đặc biệt khác thường.





