Mở tập thơ nhỉnh hơn lòng bàn tay với chữ thư pháp rất đẹp, với các tiêu đề: :”Lục bát lên đồng” kèm chú giải “Chữ mới giọng xưa - HTX thơ Hồn Rơm - Phụ bản chép tay - Véo ra trong điệu ru của mẹ”.  Tôi giật mình đưa mắt tìm tác giả thì ông đã xách chiếc bị cói đi đâu mất. Người này điên chăng? Hay là thần kinh có vấn đề gì chăng? Đã thế bìa lại vẽ một con trâu đang tắm chua thêm dòng chữ “Cho xuân Kỷ Sửu”. Phía sau còn nghộ nghĩnh hơn nhiều: HTX thơ thủ công Hồn Rơm (Gớm nữa, lại có cả thơ thủ công, thơ mậu dịch, thơ nhà máy?) Tiếp đó như là giới thiệu trích ngang và ngành nghề của mình: “Chuyên chế tạo ca dao/Sản xuất thơ sạch/Nguyên liệu cổ truyền/Ngôn ngữ dân gian/Bền cùng trí nhớ/Kiểu dáng độc nhất/Chữ nghĩa gì nhất/Giọng điệu ấy nhất/Độc giả lạ nhất/Giá bất đồng nhất”.  Tiếp đó, ngài còn kẻ một cái khung trông như chiếc quan tài nghoệch ngoạc mấy chữ “Thơ chui cấm đọc trộm”, phía dưới kèm thêm dòng chữ “Không bán chỉ mừng tuổi thơ. Người yêu thơ mừng 21.686 đồng ; Người chán thơ mừng 12.868 đồng”. Và kèm theo đó là một cái dấu đỏ chót hình vuông chắc chỉ Văn Thùy mới đọc nổi. Một bạn văn nghệ không biết tên ghé sang vì tò mò thốt ngay hai tiếng: Điên rồ!

Tập thơ song ngữ “Đắng và ngọt”  của Trang Thế Hy vừa được NXB Thanh niên phát hành đầu tháng 12/2009, với phần tiếng Anh của dịch giả Nguyễn Tiến Văn. Cũng có những ý kiến riêng lẻ cho rằng ông là một trong 5 nhà văn lớn nhất của Nam bộ thế kỷ 20. Riêng nhà văn Nguyên Ngọc thì nhận xét: “Trang Thế Hy là người chăm chút đi tìm những cái đẹp nhỏ nhoi, lẩn khuất, bị bỏ quên, hoặc ở trong những góc hẻo của cuộc đời, hoặc bị vùi trong bùn đất của nghèo khốn”. Ngoài văn xuôi, Trang Thế Hy làm thơ rất ít, cả sự nghiệp thơ của ông chỉ khoảng 15-20 bài, tập mỏng này đã khá đầy đủ. Trong “Lời cuối sách” của tập thơ, Trang Thế Hy viết: “Nhan đề chung cho cuốn sách mỏng này do người biên tập chọn để tỏ lòng thiện cảm với cái nhan đề gốc của bài thơ Cuộc đời. Tháng 9/1959, người chủ biên tuần báo Vui sống (Sài Gòn), nhà văn Bình Nguyên Lộc, khi duyệt bài vở cho tờ báo số 9, đã góp ý với cộng tác viên Minh Phẩm, người đã nộp bài thơ Đắng và ngọt, rằng cái vị của cuộc đời này nó đa dạng và phức hợp lắm chứ không đơn giản như sự nhu hiền đồng thuận tạo hài hòa hay ngạo mạn đương đầu gây đối nghịch giữa hai cái vị đắng và vị ngọt”.

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà


[Vào lúc : 11:18 - 06/12/2009 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]
Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh và người vợ hiền Nguyễn Thị Cẩm Thạnh trong căn nhà nhỏ đã lặng lẽ khép cánh cửa gió lùa khi mùa đông về. Mỗi sáng, họ thức dậy chậm hơn, bên ly cà phê sáng, nhiều khi là im lặng, là ngồi sát bên nhau, ngước mắt nhìn về xa xăm qua khung cửa. Người già thường sống nhiều với ký ức, mà ký ức của một  nhà thơ đã ngoài 90 tuổi nào có thể nhớ được gì nhiều. Thế nhưng, một điều kỳ lạ là dù đã sống chậm, nghĩ chậm đi bởi tuổi tác nhưng cặp vợ chồng Xuân Sanh - Cẩm Thạnh vẫn trẻ trung lạ kỳ so với tuổi thực. Gương mặt nhà thơ Xuân Sanh chỉ như ngoài 70 một chút thôi, quá ít nếp nhăn, không bị còng lưng, hay khó khăn đi lại. Ông bà vẫn hằng ngày rủ rỉ bên nhau như đôi chim cu cườm không bao giờ để lỡ mất những buổi nắng mai. Họ vẫn đi bên nhau, trong nhịp nhịp hối hả của mùa.

Cô tiểu thư khuê các sống trong nhung lụa đã đem lòng yêu một người văn sỹ nghèo khổ với niềm tin mãnh liệt rằng, sống với người như vậy, bà sẽ nhận được nhiều tình cảm và hạnh phúc cho đến đầu bạc răng long. Gặp gỡ bà đôi lần, thoáng chốc ở 21 Đoàn Nhữ Hài không đủ để bà nhận ra tôi nhưng tôi lại đặc biệt ấn tượng bởi phong cách của bà. Ở bà Tô Hoài, có cái lễ, cái nghĩa, cái tinh tế quyền quý, nhưng giản dị chân thành của người Hà Nội gốc. Mới đây, sau lần gặp gỡ đặc biệt ấy, tôi đã ghé qua nhà bà, không phải để tìm hiểu kỹ hơn câu chuyện của bạn gái bà mà bà Tô Hoài đã kể cho tôi nghe với nguyện vọng được in báo mà tôi đến để thăm bà, để viết chân dung về bà, về một người vợ tảo tần và thầm lặng phía sau cuộc đời của nhà văn nổi tiếng Tô Hoài.

Một nhà văn Việt Nam ở cách xa nước Pháp hàng ngàn dặm như tôi mà bỗng nhiên được dịch và in tới hai cuốn tiểu thuyết ở một Nhà xuất bản truyền thống L'Aube thì thay vì đó là một sự vinh hạnh, một tín hiệu rất vui, rất đáng để xúc động, vậy mà ngược lại nó lại đưa đến cho tôi những buồn phiền không đáng có. Tất cả đều do cách ứng xử thiếu minh bạch và không đàng hoàng của Nhà xuất bản L'Aube. Thiếu minh bạch trên cả hai cuốn tiểu thuyết của tôi, cuốn sau nghiêm trọng hơn cuốn trước.

CAO DUY THẢO chầm chậm với Thời Gian


[Vào lúc : 11:06 - 26/11/2009 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]
Nhà thơ Thanh Quế nhớ lại: “Năm 1975, những truyện ngắn của Cao Duy Thảo được Nhà xuất Bản Văn nghệ Giải phóng Trung Trung bộ tập hợp in thành tập "Im lặng của đá". Đây là một tập truyện khá, đều. Nhưng do việc phổ biến khi ấy còn hạn chế nên chưa được nhiều người biết đến. Lần đầu tiên có sách, Cao Duy Thảo rủ chúng tôi ra một cái quán phở Bắc ở đường Hải Phòng (Đà Nẵng). Cao Duy Thảo cầm theo độ mười tập truyện, gặp ai trong quán cũng tặng. Tôi nhớ khi Cao Duy Thảo đưa tập truyện cho một cô gái ngồi bàn bên cạnh, cô ngạc nhiên hỏi: “Anh tặng em?”. “Vâng, tặng cô!”. Cô gái cười: “Tưởng các anh vận động mua sách, em xin gửi lại vì em chỉ đủ tiền để ăn bát phở thôi”

LÊ QUỐC HÁN càng giỏi Toán càng say Thơ


[Vào lúc : 16:26 - 25/11/2009 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]
Giới sinh viên khoa Toán, Trường Đại học Sư phạm Vinh khi nhắc đến Phó Giáo sư - tiến sĩ toán học Lê Quốc Hán, không ai không khâm phục về tài năng sáng tạo và nhiệt huyết với nghề của anh. Thầy giáo dạy toán đầy kinh nghiệm ấy lại là một nhà thơ. Lê Quốc Hán vừa là hội viên Hội Văn nghệ Nghệ An, vừa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Khi dòng chảy của thị trường ào ạt, không ít người đã hờ hững với thơ, nhưng ông tiến sĩ này lại chiều chuộng nàng thơ hết mực. Anh không chỉ làm thơ đều đặn gửi bài cho các toà soạn, mà còn là một cây bút bình thơ khá sắc sảo

PHAN TỨ theo hồi ức của NGUYỄN QUANG LẬP


[Vào lúc : 20:03 - 24/11/2009 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]
Anh Thanh Quế nói ông Phan Tứ làm cái gì cũng lên kế hoạch, thời gian biểu kẻ bảng, hôm nay đi đâu mấy giờ, làm việc đến mấy giờ, tạt qua thăm ai, nói chuyện cái gì, mấy giờ thì về nhà…  cứ thế răm rắp. Anh Bùi Minh Quốc nói ở nhà ông còn răm rắp hơn, thức dậy giờ nào, thể dục  giờ nào, ăn sáng giờ nào, uống thuốc bắc giờ nào, nghe đài ta giờ nào đài địch giờ nào, vào bàn viết giờ nào… tuyệt không sai một khắc. Mình cười hì hì, nói ngủ với vợ chắc cũng đúng giờ luôn nhỉ. Anh Thanh Quế nói chớ sao, đến vệ sinh giờ nào đi xia giờ nào đi tiểu ông còn rèn cho đúng giờ được nữa là. Mình thè lưỡi rụt cổ, nói sợ quá sợ quá. Anh Bùi Minh Quốc đập tay cười kha kha kha, nói được rồi, khi nào tôi chuốc ông Phan Tứ món rượu kích dục xem thử ông có đúng giờ được không. Anh Thanh Quế  nhăn răng cười, nói hay hay, nhưng mà thua ổng thôi, ổng lập trường vững vàng lắm, chưa đúng giờ thì có dí bướm vào mũi ổng vẫn không xao xuyến.

Sự nghiệp văn học của nhà thơ Phan Xuân Hạt không có cơ may chói sáng như một số nhà văn khác, nhưng ông luôn giữ được sức bền bỉ và  âm thầm với công việc sáng tạo. Gần một đời sáng tác, nhà thơ Phan Xuân Hạt đã công bố non chục tập thơ. Nghe vợ đùa: “Thời trẻ, lấy ông vì tôi mê thơ của ông. Chứ tham quyền chức, thì tôi đã lấy cái người theo đuổi tôi mãi. Người ấy đã lên chức Bộ trưởng rồi đấy!", nhà thơ Phan Xuân Hạt phả hơi thuốc, thũng thẵng đáp: "Thì đã mấy ông Bộ trưởng có được câu thơ để lại cho đời!", rồi ông quay lại nói nhỏ với đồng nghiệp Vũ Từ Trang : "Mình chỉ có mấy bài thơ tâm đắc với mình thôi, chứ tay Bộ trưởng ấy có mấy nghìn mét đất cơ đấy".

Sau này tôi biết nghề đạo diễn mà Nguyễn Đình Nghi yêu mê đến mức ném nguyên cả cuộc đời ông vào đó lại không bắt đầu từ bất cứ trường lớp đào tạo chính quy nào, mà bắt đầu ngay từ chính người cha ruột của ông - thi sĩ tiền phong của trào lưu Thơ Mới, mở màn cho văn chương Việt hiện đại từ những năm 30 của thế kỉ trước. Chính là Thế Lữ đã chú ý giáo dục con trai theo lối văn minh Phương Tây, để chuẩn bị cho Nguyễn Đình Nghi một vốn "văn hoá Tây" thật cần cho đoạn đường sau này. Và cũng chính là Thế Lữ dạy cho Nguyễn Đình Nghi tình yêu tiếng Việt, tình yêu hồn vía văn hoá Việt truyền thống của sân khấu dân tộc: rối nước, quan họ, ca trù, tuồng, chèo, cải lương...Hơn hết, chính là Thế Lữ đã giáo dục và trông nom cho tâm hồn Nguyễn Đình Nghi có được sự hoà quyện uyển chuyển chan hoà từ cả hai nguồn ảnh hưởng: văn hoá Việt và văn hoá Pháp.

Phân trang 8/44 Trang đầu Trang trước 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất