Cái bản Pác Thay của tôi bị phân định, chia cắt bằng những hàng rào vô cảm, kín mít và được phòng thủ bằng vô vàn mảnh sành sắc lẹm. Đám trẻ con không còn cơ hội chơi đùa, trâu bò cũng không tìm thấy hơi ấm. Còn sơn nữ… Ôi! Những sơn nữ ngày nào giờ không còn tựa mình làm duyên ở hàng rào đá nữa. Những viên đá ngàn đời kia bị nghiền nát, trộn với xi măng, đóng thành khối vuông vức kia đã chết từ bao giờ!? Từ hàng rào ấy không còn hơi ấm, cũng chẳng thấy tình người – tất cả lạnh băng với những cái răng mảnh sành sắc nhọn. Còn đám trai bản, giờ đây cái đầu của họ cũng không nhớ nổi câu Sli điệu Lượn nào nữa. Đêm đêm, chúng tụ tập nghêu ngao những âm giai vô nghĩa trên màn hình karaoke. Chúng uống bia, chửi tục, ngất ngưởng bên những hàng rào xi măng vô cảm!

Nhà thơ Phạm Việt Thư, sinh ngày 10/8/1953 Nam Đông, Nam Đàn, Nghệ An. Anh vào lính chiến đấu tại chiến trường Miền Đông Nam bộ từ 1972, tốt nghiệp khoa ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1981, hiện công tác tại Báo Nông nghiệp Việt Nam. Bằng quan sát sắc bén của nhà báo và trái tim đau đáu của nhà thơ, Phạm Việt Thư đã từng tâm sự với Bà Huyện Thanh Quan rằng: “Xe đang rồng rắn lên trời. Người ngồi người đứng toàn người cao sang. Toàn là mũ áo xênh xang. Chỉ buồn một nỗi Đèo Ngang đang nghèo”, còn bây giờ lại ngổn ngang bao nhiêu câu hỏi: “Hỏi tại vì sao sông khô hồ cạn. Hỡi ông địa chất tài nguyên môi trường. Hỏi các bà con đồng chí Thái Bình. Chọn một năm than hay ngàn năm lúa?

Mở đầu “Hạt yêu thương” của Ngô Thị Thục Trang như một lời kể. Rằng “người con gái sang sông / bỏ lại tuổi hai mươi bên triền cỏ may / ngăn ngắt buổi chiều / câu hát mẹ tựa cửa ngóng trông / mắt cha mờ gỡ từng sớm mai nhóm lửa”…Thi liệu không mới. Cũng đã thấy hình ảnh một người con gái, như bao người con gái khác, từ ngày xửa ngày xưa, “sang sông” như một điều bình thường, theo quy luật của Tạo hoá. Và rồi cái “triền cỏ may” ấy, cái buổi chiều xanh “ngăn ngắt” ấy, cùng với hình ảnh người mẹ “tựa cửa ngóng trông” và người cha đã già ngồi nhóm lửa mỗi ban mai…Hình ảnh không mới, bởi chất liệu là của truyền thống, nhưng đến câu “mắt cha mờ gỡ từng sớm mai nhóm lửa” thì lại là một câu thơ hiện đại, nhiều nghĩa và giàu biểu cảm, có thể xem là một câu thơ tài hoa

PHÙNG VĂN KHAI rong chơi cùng thi ca


[Vào lúc : 10:43 - 29/05/2010 | Chuyện mục : Tác phẩm của đồng nghiệp]
Phùng Văn Khai trước ở Truyền hình Quân Đội, sau mới chuyển qua Văn Nghệ Quân Đội. Chỗ làm cũ hay chỗ làm mới cũng không ngăn được bàn chân mê mải dặm đường của anh. Thoắt cái, nghe điện thoại, biết Phùng Văn Khai đang ở Tây Nguyên. Thoắt cái, nghe điện thoại, biết Phùng Văn Khai đang ở đồng bằng sông Cửu Long. Đi nhiều và viết nhanh, là đặc điểm nổi bật của một người viết báo, viết ký, nhưng chưa hẳn là ưu điểm của một người sáng tác thơ. Chẳng ai biết Phùng Văn Khai nổi hứng thi ca vào lúc nào, nhưng có lẽ đó cũng là một cái thú rong chơi để hốt hoảng “ta về ngậm hạt mưa ngâu, ái ân vạt áo qua cầu gió bay”

Tình yêu mang hình hài vũ trụ


[Vào lúc : 11:04 - 22/05/2010 | Chuyện mục : Tác phẩm của đồng nghiệp]
Vân Long bình bài thơ “Cánh buồm” của Lê Khánh Mai: “Chỉ người đàn bà sinh con mới thấu được cảm giác xẻ da thịt đến tận cùng thể xác, chỉ cơn đau đớn kỳ lạ mang đặc trưng nữ tính hòa quyện trong tình yêu thiêng liêng với sinh linh bé nhỏ sắp chào đời và niềm hy vọng thiết tha mới đủ năng lượng chắp cánh cho tưởng tượng bay lên, bay lên trong ảo giác, trong cuộn xoáy của trái đất, bầu trời, như chong chóng, như trận bão kinh hoàng… Có lẽ bất kỳ người phụ nữ bình thường nào khi sinh con đều trải qua những cảm giác như vậy. Nhưng với một phụ nữ - nhà thơ thì nỗi đau thể xác ấy đã được thăng hoa làm nên vẻ đẹp rực rỡ, thanh cao giữa đời thường vốn bình lặng và ẩn khuất. Người đọc tiếp nhận giá trị nhân văn ấy thông qua hệ thống hình tượng so sánh đối lập…”

Một tản văn day dứt của A Sáng: “Với người miền núi, lời hứa thật quan trọng, nó tượng trưng cho lòng tự trọng, sự kiêu hãnh, tính trung thực… còn nhiều thứ nữa tôi không đủ sức kể ra vì tôi đâu còn là chính mình nữa. Những gì tinh khiết nhất, đẹp đẽ nhất mà tinh hoa của rừng núi ban tặng đâu còn thấm đẫm trong tâm hồn tôi. Tôi là kẻ nói dối! Kẻ bịa đặt thành thạo - tỉnh bơ - trơ trẽn nhất…Tôi tin, nhiều người ở thành phố cho đó là chuyện bình thường. Một lời hứa thoảng qua, làm sao nhớ được, cả ngàn việc đang chờ. Với cái cớ bận bịu đó chúng ta đã bỏ qua bao nhiêu điều tưởng như bình thường, và băng qua nó một cách tỉnh bơ. Vậy, chúng ta có phải thanh lịch, văn minh như những gì vẫn nói?”

Thư của nhà báo Dương Đức Quảng: Tôi vừa đọc bài viết “Trào vui nước mắt cứ rưng rưng”của tác giả Lê Xuân trên lethieunhon.com, trong đó có đoạn: “Nhà thơ Lê Văn Vọng kịp “ký họa” lại bằng thơ hình ảnh “Người chiến sĩ trong trận đánh cuối cùng” thật xúc động: “Anh ngã xuống phút cuối cùng chiến dịch. Chỉ một tầm tay thôi là chiến tranh kết thúc. Anh là người cuối cùng nhận về mình cái chết. Để ngày vui bạn bè đủ mặt”. Là một nhà báo từng có mặt tại chiến trường miền Nam trong những năm tháng hào hùng và đau thương, mất mát đó, tôi đã chứng kiến nhiều bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp hy sinh trước ngày toàn thắng.
Cách đây 5 năm, cũng vào dịp 30-4 này,  gia đình Bác sĩ - Liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm nhận được một kỷ vật vô giá. Đó là chiếc đĩa CD ghi lại nội dung hai cuốn nhật ký của chị, do Federic Whitehurst (Fred), cựu binh Mỹ, người đã gìn giữ những trang viết tâm huyết của chị trong suốt 35 năm, kể từ ngày chị hy sinh, nhờ một nhà báo Mỹ sang Việt Nam tìm gia đình chị để trao lại. Tháng 8/2005, Fred cùng anh trai mình là Robert Whitehurst, cũng là một cựu binh Mỹ trên chiến trường Việt Nam, đã sang thăm gia đình liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm và nhận làm em của chị. Khi cùng gia đình và bạn bè của chị lên viếng chị tại Nghĩa trang liệt sĩ Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội, Fred đã gục đầu khóc thổn thức trước mộ chị. Tôi đã  có mặt và chứng kiến sự việc này, sau đó làm bài thơ “Trước mộ liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm” . Nhân đọc bài “Trào vui nước mắt cứ rưng rưng” , tôi xin gửi bài thơ như là một lời tri ân đối với tất cả các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc!”


Người Việt vốn yêu chuộng hòa bình. Trên đất nước bốn ngàn năm đã thấm thía bao nhiêu mất mát và chia lìa vì chiến tranh, ai cũng muốn phút giây được hòa giải, được sum vầy, được yêu thương. Nhà thơ – chiến sĩ Dương Xuân Linh đi dọc miền rung cảm, từ sẻ chia “chiến tranh qua rồi, em còn ngủ say lưng đồi nắng ấm” đến thảng thốt “em gái Việt ngôn ngữ mình lơ lớ, một thoáng buồn bay theo gió xót xa” và ngậm ngùi “Washington D.C thanh bình là thế. Yên ả nơi đây, gieo thù hận xứ người”. Tháng 4, đọc những dòng thơ mộc mạc và chân thành, càng thấy xung quanh có thêm nhiều tấm lòng trân trọng cuộc đời này!

Thánh Gióng đánh giặc năm 3 tuổi rồi bay về Trời nghỉ hưu. Thiên hạ đồn rằng, Trần Đăng Khoa học tập thánh nhân, làm thơ thời thiếu nhi xong liền về hưu năm… 10 tuổi. Thế nhưng, ở đời đâu phải ai cũng thấy "đánh giặc lên ba hiềm đã muộn, cưỡi mây tầng chín giận chưa cao". Nhà văn Trần Kỳ Trung ưu thời mẫn thế bằng một truyện ngắn “Học tập Thánh Gióng” với hai nhân vật Tất và Tiu nhiều tâm tư: “Từ hôm có người cho biết tuổi thật của Tiu, Tất nhẩm tính từng ngày. Năm mươi chín tuổi, chín tháng, ba ngày...Còn là... Năm mươi chín tuổi, bảy tháng, mười bảy ngày... Còn lại... Ngày nào Tất lên cơ quan, việc đầu tiên là bóc lịch, rồi nhẩm tính cộng, trừ từng ngày Tiu về hưu. Chuyện Tiu về hưu như là một lẽ đương nhiên. Vậy ai sẽ thay Tiu làm Giám đốc? Chỉ có Tất. Anh em trong cơ quan đồn Tất được nhiều người trong Tổ chức Tỉnh ủy ủng hộ, họ thì thầm bàn tán “Anh Tất lên chức Giám đốc quá xứng đáng. Tuổi, bằng cấp, trình độ thực tiễn... cái gì cũng thừa!”. Có người làm như Tất đã là giám đốc rồi, đưa thuốc lá mời Tất, anh ta đưa cả hai tay, đầu cúi rất cung kính...”

Nhà thơ Triệu Lam Châu là một người con của dân tộc Tày, nguyên quán Nà Pẳng, Đức Long, Hòa An, Cao Bằng. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ Leningrat, nhà thơ Triệu Lam Châu gắn bó với mảnh đất Nam Trung bộ và giảng dạy tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Phú Yên. Email ngày 8-4-2010, nhà thơ Triệu Lam Châu viết: “Hôm nay tôi mới sực nhớ ra là sắp tới dịp kỷ niệm 49 năm ngày Gagarin bay vào vũ trụ (ngày 12 tháng 4 năm 1961). Tôi xin gửi lethieunhon.com một chùm thơ về Gagarin, công dân Nga Xô Viết, nhà du hành vũ trụ đầu tiên của loài người. Những bài thơ này đã được làm từ lâu, nhưng hẳn vẫn không cũ, vì tấm lòng ngưỡng mộ của chúng ta đối với Gagarin không bao giờ mờ phai!”

Phân trang 19/36 Trang đầu Trang trước 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất