Một địa danh quyến rũ âm nhạc


[Vào lúc : 11:01 - 08/09/2010 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Ngày Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đang đến rất gần, trong nhiều hoạt động chào mừng, người ta bắt gặp một tuyển tập nhạc gồm 1.000 ca khúc viết về Thăng Long - Hà Nội do nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha sưu tầm, tuyển chọn. Mới hay, tìm kiếm con số 1.000 ca khúc gắn với Hà Nội là điều hoàn toàn có thể. Và cũng có thể khẳng định ngay rằng, không có một vùng đất nào trên đất nước thân yêu của chúng ta lại trở thành nguồn cảm xúc dạt dào, vô tận trong âm nhạc như Hà Nội. Không ít người cho rằng, trên thế giới, có lẽ cũng hiếm có thủ đô nào lại có được một số lượng lớn bài hát hay như Hà Nội. Vì sao Hà Nội lại trở thành địa danh quyến rũ tâm hồn người làm âm nhạc đến vậy? Một cơn mưa phủ trắng mặt hồ, một nhành liễu, một cây bàng lá đỏ, một chiều thu vàng rực rỡ, một gốc cây già lẻ loi, một "mái ngói thâm nâu", một đêm mùa đông buốt giá, những con phố nhỏ dịu dàng, một bóng người đi về trống vắng... Rất đời thường mà giăng mắc trong lòng người biết bao luyến lưu, thương nhớ.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều suy tư: :Tố Hữu có phải là nhà thơ cách mạng lớn nhất không? Tôi đặt ra câu hỏi này nhưng lại không cần phải trả lời. Tôi chỉ biết ông là nhà thơ có nhiều bạn đọc nhất trong thời đại của ông. Tôi chỉ biết rằng ông đã sinh ra đúng thời. Giọng nói của ông là giọng nói của thời đại ấy. Có hai người làm thơ sinh đúng thời nhất: Tố Hữu và Trần Đăng Khoa. Tôi không hiểu nếu những năm tháng này, Tố Hữu đang 20 tuổi trai trẻ và Trần Đăng Khoa đang 8 tuổi ấu thơ thì giọng nói của họ sẽ vang lên như thế nào. Họ có tài và họ sẽ làm thơ. Nhưng họ sẽ viết những câu thơ ra sao? Tôi luôn luôn nghĩ Tố Hữu là người nghệ sĩ nhân dân. Thơ ông là bài ca vui bất tận. Khi thơ ông bước vào cái tuổi sung sức nhất lại chính là lúc dân tộc Việt Nam sau bao năm làm thân phận nô lệ đã thành người tự do. Ai sống trong thời đại ấy cũng sẽ quên đi những nỗi buồn cá nhân để cất cao tiếng hát của mình trong bài ca độc lập của dân tộc. Trong niềm vui lớn lao của những năm tháng như những ngày hội lớn ấy, chỉ cần vỗ tay hay gõ hai cái thanh tre vào nhau chúng ta cũng có thể hát theo say đắm chứ cần chi đến một dàn nhạc lớn với những bản giao hưởng đồ sộ. Tố Hữu đã trở thành người lĩnh xướng trong dàn đồng ca ấy”

NGUYỄN ĐÔNG THỨC ngọc trong đá


[Vào lúc : 11:03 - 31/08/2010 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Có ai khó tính như “lão” ấy không? Ai đời, ngay cả lúc nhậu với bạn bè “văn nghệ”, ai cũng có thể bốc phét một tấc đến trời, thì lão vẫn ngồi nốc tì tì, điềm nhiên như không. Đang nhậu, nếu tình cờ có người lạ đến ngồi “ké” góp vui, thì trăm lần như một, chỉ một loáng sau thấy không hợp là lão kiếm cớ chuồn mất! Đã thế, được mời đi nhậu, lão luôn hỏi sẽ ngồi chung với ai, bao nhiêu người, quán nào v.v... và v.v... Cự nự với lão chuyện khó tính khó nết đó, lão cười: “Đã nhậu là phải vui, xả cảng, khỏi cảnh giác. Khác rơ, không uống được”. Riết rồi anh em cũng quen. Đi nhậu với lão cũng có cái vui là lão không gây sự với ai, không nói xấu ai, tâm sự vui ra phết và thỉnh thoảng cũng... “bốc” lên ca hát ầm ĩ!

Dấu ấn thơ TRÚC THÔNG


[Vào lúc : 11:54 - 27/08/2010 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Nhiều năm nay những người trong giới, khi nhắc đến thơ Trúc Thông thì hầu như theo thói quen hoặc theo một sự đánh giá nào đó, chỉ nhắc tới bài thơ lục bát "Bờ sông vẫn gió". "Bờ sông vẫn gió" là một bài thơ lục bát hay, nhuần nhị và cảm động về người mẹ. Một nhà cách tân thơ như nhà thơ Trúc Thông, trong sáng tạo thi ca của anh, dĩ nhiên những bài thơ tiêu biểu không chỉ là "Bờ sông vẫn gió", mà phải kể đến một loạt những bài thơ tự do Trúc Thông sáng tác vào những năm 70-80 của thế kỷ trước. Đó là những bài thơ khoáng đạt và thuần khiết, với kết cấu thơ vừa chặt chẽ vừa mở, thể hiện sự lao động nghệ thuật công phu. Theo tôi, dấu ấn của thơ Trúc Thông được tạo lập đậm nét có lẽ bắt đầu ở thời kỳ này. Đó là thời kỳ mà thế giới thơ Trúc Thông mở về phía Hy vọng, về sự hồn nhiên trinh tuyền trong cảm nhận của nhà thơ về thế giới và thiên nhiên và về cuộc đời...

Quan niệm văn chương siêu cấp


[Vào lúc : 11:56 - 21/08/2010 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Nhiều nhà văn nhắc đến sự hy sinh, thậm chí là sự "trả giá" khi chọn nghiệp văn chương, nhưng có lẽ không ai đặt vấn đề "trả giá" nghiêm trọng đến như nhà thơ Nguyễn Anh Thuấn. Ấy là khi ông cho hay: "Nghề văn là một nghề nhọc nhằn, cay đắng và sang trọng. Muốn có được sự thành đạt đều phải trả giá. Bằng chính thân phận và cuộc đời mình. Thậm chí cả gia tộc mình". Cứ cảm tưởng như Nguyễn Anh Thuấn muốn nhắc nhở mỗi nhà thơ nhớ đến thân phận của... Ức Trai tiên sinh. Cũng tương tự trường hợp Nguyễn Anh Thuấn, nhà văn Sỹ Tiến cũng thể hiện tình yêu tột cùng của mình với văn chương nghệ thuật qua lời nhắn nhủ: "Nếu tôi chết, đừng chôn tôi. Hãy căng da tôi lên mặt trống, để tôi luôn được gần sân khấu, sống không khí nghệ thuật mỗi ngày". Nữ thi sĩ Đặng Nguyệt Anh thì lại cho rằng: "Đôi khi phải mài nhan sắc để được những câu thơ đến với người đọc và ở lại trong lòng họ". Nữ thi sĩ Đoàn Thị Lam Luyến cũng chung một quyết tâm như vậy khi quả quyết: "Đã đi vào nghiệp văn chương phải dấn thân và hy sinh nữa. Để có "nhan sắc" cho thơ, người viết dám mất đi nhan sắc của chính bản thân mình".

Sinh thời luôn lang thang đi và viết, chắc nhà văn Sơn Nam cũng không thể ngờ khi ông qua đời lại có đến hai địa chỉ để những người yêu mến ông được dịp tới lui thăm viếng. Ngôi mộ nhà văn Sơn Nam đã được xây cất bề thế tại ấp 1B xã Chánh Phú Hòa, Bến Cát, Bình Dương. Còn Nhà lưu niệm nhà văn Sơn Nam, tại ấp 4, xã Đạo Thạnh, TP Mỹ Tho, Tiền Giang. Về thiết kế, ngôi mộ Sơn Nam được xây dựng một cách đơn giản mỹ thuật và khá độc đáo hợp với tính cách nhà văn. Toàn bộ đá xây dựng được mua từ Bình Định về và được xử lý một cách công phu. Trên phần bia, bên cạnh chữ “Sơn Nam 1926-2008” khuôn mặt nhà văn được khắc nổi theo hình mẫu in trên một tờ báo chụp khi nhà văn đang đi thực thế, vai còn mang chiếc ba lô. Còn nhà lưu niệm của Sơn Nam có thể hình dung “khoảnh đất này có cây sú, tre và cây vẹt, bên kia sông là một dãy  bần và dừa nước. Khi nước lớn, lục bình trôi, ghe thuyền tấp nập, gần đó là đường xe cộ chạy. Trên bến dưới thuyền là cảnh quan đặc trưng của vùng đồng bằng Nam bộ”

Giữ đúng lời hứa, lethieunhon.com chỉ cho hiển thị bài trao đổi “Chủ tịch Hội Nhà văn VN ứng xử với Phê Bình Thơ bằng mệnh lệnh hành chính?” vỏn vẹn 3 ngày, và đã rút xuống. Tuy nhiên, bằng sự nhiệt tình vì không khí văn chương lành mạnh, nhà thơ Đỗ Minh Tuấn xin tự nguyện thay mặt nhà thơ Hữu Thỉnh có đôi lời đáp tạ: “Sau lá thư ngỏ của Lê Thiếu Nhơn, nhiều người chờ đợi sự hồi âm của nhà thơ Hữu Thỉnh, nhưng đến nay đã hơn một tuần rồi mà chưa thấy tín hiệu gì từ vị Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam gửi tới lethieunhon.com. Mặc dù tôi đang bận rộn với công việc đạo diễn cho Đêm Đại lễ mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội vẫn tranh thủ thời gian dự thảo một lá thư trả lời cho nhà thơ Hữu Thỉnh, để bạn đọc xa gần đọc tạm, giống như xơi tạm cá gỗ treo lủng lẳng trong lúc chưa có tiền mua cá thật bày mâm”

Có một dấu ấn đặc biệt in đậm trong số 101 bài thơ tình của nhà thơ Hồng Thanh Quang, đó là hình ảnh người đàn bà hát. Tình yêu và tiếng hát đã khiến cho trái tim thi nhân cất cánh, giúp anh vượt qua những khổ ải ở cuộc đời. Tình yêu ấy, có chia lìa, có cách xa, hờn giận, có cả sự ngăn cách bất biến của thời gian, không gian, nhưng nó lại là nơi cứu rỗi cho con người thơ  biết dừng lại để ngắm nhìn mình, soi bóng hình mình qua một gương kính sáng, nhưng dừng lại để biết vượt lên quá khứ, vượt lên ngăn cách để sống đẹp, sống vị tha và biết dấu yêu. Người đàn bà đã ghi khắc vào thơ của anh những giai điệu ngọt ngào của tâm hồn luôn khát khao, thảng thốt: "Đừng để đó chỉ là ảo giác/ Tan hát rồi, em lại vẫn em thôi/ Nhưng dù đó có là ảo giác/ Anh vẫn yêu em như lần cuối trong đời...".

Nhà văn Triệu Xuân tường trình: "Anh Trần Mạnh Hảo rượt theo cô nhân viên ban tổ chức để giành micro, nhưng cái micro này không hiểu sao không có âm thanh. Thế là Trần Mạnh Hảo lao lên bục nói như gào lên: “Tôi thấy đây không phải là Đại hội Nhà văn, đây chỉ là cuộc bầu bán”. Lập tức, micro im bặt, ở dưới nhìn lên, tôi chỉ thấy dáng hình Trần Mạnh Hảo vung tay, miệng mở hết cỡ, như trong phim câm thuở nào… Tôi quay qua nói với anh Dương Trọng Dật và các đồng nghiệp xung quanh: “Cắt micro không cho Trần Mạnh Hảo nói là sai. Hội viên ta ai cũng có bản lãnh, không thể bị lung lạc nếu điều ấy là sai. Không nên làm việc ấy! Nếu làm vậy, sẽ bị hiểu lầm là phi dân chủ, lặp lại chuyện công an bịt miệng Nguyễn Văn Lý cách nay ba năm…”. Sau đó tôi nói điều này với anh Hữu Thỉnh. Nhiều người tán thành, riêng Mai Quốc Liên thì gay gắt: “Thằng Hảo cướp micro, cướp diễn đàn, việc gì phải văn hóa với nó”!"

Bước vào Xới Vật Làng của giới nhà văn


[Vào lúc : 12:41 - 08/08/2010 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Với thắc mắc “900 hội viên ai người lớn, 60 tuổi đời vẫn trẻ con”, nhà văn Phạm Viết Đào ghi nhận và bình luận: “Đại hội Hội Nhà văn VN lần thứ tám nếu tính từ chiều ngày 4 với cuộc họp đảng viên và bế mạc vào chiều ngày 6/8/2010, Đại hội diễn ra trong vòng 2 ngày rưỡi; Tham dự đại hội có 736 trên tổng số 923 đại biểu; trong đó có 623 đại biểu là đảng viên…Đại biểu dưới 40 tuổi trên dưới một chục người còn phần đông từ 50 tới 70 tuổi…Theo dõi không khí đại hội và những chuyện xảy ra tại không gian đại hội thấy Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam diễn ra gần giống như một “xới vật” làng; một cái làng có nhiều đám trẻ choai choai, ít công ăn việc làm, cứ đụng đến chuyện gì, trái ý nhau một tí, chưa hiểu nhau, thế là chẳng ai chịu ai, chẳng ai nhường nhịn ai lao vào vào vật nhau… Tại Đại hội nhà văn lần thứ VIII đã xảy ra mấy kiểu, dạng vật nhau rất khôi hài và mất nhiều thời gian của đại hội, có người bảo là căng thẳng, nhưng có người lại khoái cho đó là vui, mới là đại hội văn!”

Phân trang 1/53 Trang đầu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất