Phân trang 15/94
10 11 12 13 14 15 16 17 18 19
[ Kiểu hiển thị
Trích dẫn |
Liệt kê ]
[Vào lúc : 16:08 - 02/11/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Từ nhà giáo làm thơ Nguyễn Đức Dzụ, chúng tôi tìm ra những anh em làm văn nghệ kỳ cựu khác. Như bác Tùng Dũng, bác Quang Ngọc, bác Nguyễn Hiền, bác Hàn Thái Lan, bác Thân văn Lư… Đó là những bậc trí thức uyên thâm được đào tạo từ thời Pháp thuộc. Thơ văn của họ phần nhiều là tiếng nói hào sảng. Thơ kể về một vùng quê có bề dày văn hóa và truyền thống lịch sử đấu tranh cách mạng. Đọc họ, ta thấy thấp thoáng hơi thở của Hygo, Duma, Stendhal, Lamartine… Với lối viết tinh tế, nhẹ nhàng, dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác… Bây giờ, ở Hà Nội, ngồi một mình trong căn phòng chật hẹp, cũ kỹ và hôi hám, tôi như con tắc kè nhớ suối, nhớ núi, nhớ cây, nhớ những giọt sương đêm, nhớ tiếng đàn then. Nhớ tất cả, chỉ không nhớ những lỗi lầm sai sót của mình với các bạn.
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 16:44 - 01/11/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Nhà thơ Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7-5-1932 tại Hà Nội và mất ngày 01/9/2006 tại Hoa Kỳ, nơi ông chọn để định cư vào lúc cuối đời. Thời học sinh, ông học tại các trường Tiểu học và Trung học tại Hà Nội. Thời sinh viên ông du học tại Pháp và tốt nghiệp đạo diễn điện ảnh ở Paris, sau đó ông về nước hành nghề nhà báo, rồi làm đạo diễn điện ảnh… Đã có lúc ông được cử làm Giám đốc Đài phát thanh Đà Lạt và đã nhận làm đạo diễn một số phim truyện khá nổi tiếng của Sài Gòn trước ngày giải phóng. Sau tháng 5/1975, ông đã bị tập trung học tập cải tạo một thời gian. Khi được tha về, ông đã xuất cảnh sang Pháp và tới năm 1981 thì quyết định qua định cư tại Hoa Kỳ. Lúc từ trần, ông đang cư ngụ tại thành phố San José thuộc bang California. Hoàng Anh Tuấn làm thơ từ thuở trẻ và thơ ông mang đậm chất học trò thành phố Hà Nội. Nhiều bài thơ của ông được tuổi trẻ các đô thị học thuộc, đọc say mê và thậm chí còn chuyền tay nhau chép trong vở học giữa giảng đường. Một trong những bài thơ hay đó là bài “Em về, Hà Nội” được ông sáng tác trong những ngày đất nước bị phân đôi và ông cùng gia đình phải di cư vào Nam, phải giã từ người yêu trong mộng …
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 12:26 - 01/11/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm bày tỏ sự trân trọng đồng nghiệp: Tôi bước vào làng thơ sau các anh, tuổi đời cũng kém các anh non nửa giáp, nhưng may mắn được tiếp xúc với các anh khá nhiều, đặc biệt Thanh Tùng cùng làm việc với tôi nhiều năm ở tạp chí Tài Hoa Trẻ. Vân Long sinh năm 1934; Thanh Tùng sinh năm 1935; Nguyễn Xuân Thâm sinh năm 1936. Tôi quan sát thấy mỗi anh mỗi vẻ. Vân Long thì hào hoa phong nhã, phong thái rất… viôlông trong dàn nhạc giao hưởng; Nguyễn Xuân Thâm thì mực thước cần cù, dáng dấp ông thày Đại học Bách khoa, rồi thày giáo Châu Phi hồi nào; Thanh Tùng thì bia rượu tràn cung mây, sống không cần biết ngày mai (anh thôi biên chế Nhà Nước, cầm một cục tiền 2 nghìn đồng, là xong. Giờ chả có chế độ gì, hai bàn tay trắng không nhà cửa, không lương vẫn hồn nhiên, đắm say mơ mộng)
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 11:04 - 01/11/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Ngày 1 tháng 11 là ngày lễ Các Thánh (Toussaint) của Công giáo, ngay sát ngày lễ Các Vong Hồn. Ở phương Tây, lễ Các Vong Hồn thường đúng lúc thời tiết lạnh, ảm đạm, hợp cõi chết, hợp với câu thơ Nguyễn Du Lọt hơi sưong lạnh buốt xương khô/ Não người thay… Vì vậy, tiếng Pháp có thành ngữ un temps de Toussaint (thời tiết ngày lễ Các Thánh) để chỉ tiết “Não người thay…”. Nhớ lại ngày Toussaint năm ấy, ở Paris, ngán cảnh nhộn nhịp phố phường, tôi tìm đến một nơi yên tĩnh là nghĩa địa Montparnasse là nghĩa địa lớn thứ ba của thủ đô Pháp. Nghĩa địa Montparnasse xây dựng từ năm 1824 chia làm hai khu, quây tường chung quanh, ngăn cách bởi một con đường. Mỗi khu có những lối ngang dọc, mộ xây như những nhà con, như những khu phố người sống. Tôi đang đi tìm mộ Sartre và Beauvoir thì gặp một người bảo vệ mặc đồng phục chỉ cho biết. Mộ hình chữ nhật, xây đơn giản, trên hãy còn mấy bó hoa được đặt từ lễ Các Thánh.
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 16:26 - 31/10/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Với bản tính cẩn thận, chu đáo, nhà văn Ma Văn Kháng chuẩn bị sẵn cho mình hai chiếc ba lô: một chiếc đựng đầy đủ thuốc, giấy tờ tùy thân, thẻ bảo hiểm, bệnh án… đề phòng trường hợp đến bệnh viện khẩn cấp, người nhà chỉ việc xách theo xe cứu thương; chiếc còn lại là bộ quần áo mới, những cuốn sổ ghi chép, những dặn dò dành cho người… ở lại, nếu chẳng may nhà văn phải ra đi mãi mãi. Nhưng một đêm, có tên đạo tặc đột nhập qua đường cửa sổ đã khoắng gọn cả hai chiếc ba lô. Mất hết giấy tờ, thuốc men dự phòng, nhà văn buồn rầu mất mấy ngày nhưng không dám kể với ai, cũng không đi báo công an. Chẳng lẽ lại báo mất hết đồ đạc, giấy tờ dành cho… hậu sự. Cho đến lúc con cháu biết chuyện mới ha hả cười, động viên ông: “Thôi, ông tiếc làm gì. Thằng trộm lấy hết những thứ đó là nó mang đi cho ông cả bệnh tật và cái chết rồi đấy! Thế là may. Từ nay ông cứ yên tâm mà sống vui, sống khỏe…”
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 16:02 - 31/10/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Với tiểu thuyết đầu tay “Phượng áo trắng” (2 tập – NXB Văn hóa Thông tin), bác sĩ chuyên khoa cấp 1 Vương Thị Hoàng được coi là tác giả trẻ, mặc dù tuổi đời không còn trẻ. Nhân vật chính là bác sĩ Thu Phượng – người có cuộc đời trải dài qua suốt hơn nghìn trang sách từ khi còn nằm trong bụng mẹ đến khi là bà lão hơn 80 đi về phía bên kia cuộc đời. 10 tuổi, cô bé Vương Thị Hoàng đã chứng kiến những biến động lớn trong cuộc sống, nó gây ấn tượng mạnh đến nỗi lúc đó cô bé đã nghĩ khi về già, có điều kiện sẽ viết lại những điều đó. Thế là 55 năm sau, ký ức ấy đã được đánh thức khiến chị buộc phải cầm bút. Tự bảo: Tôi viết như một lẽ tự nhiên và người phụ nữ xinh đẹp, điềm đạm đã đến với văn chương một cách tự tin, đầy quyết tâm. Nguyên cớ để chị cầm bút cũng thật lạ và đề tài mà chị chọn cũng rất riêng khác – một câu chuyện mà chị đã lưu giữ vào ký ức mình từ thời bé thơ, rồi là nhân chứng suốt cả một hành trình dài qua bao thăng trầm đổi thay của thời cuộc, để đến hôm nay, khi hoàn thành 2 tập tiểu thuyết “Phượng áo trắng”, nó như cuốn nhật ký thời đại.
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 12:05 - 28/10/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
“Người về tìm lá bể dâu” của nhà thơ Nguyễn Xuân Hải là hành trình ngược chiều thời gian, không gian tìm về quá khứ. Tập thơ mang tâm thức hoài cổ chứa đựng nhiều suy tư, ẩn ức. Với một nhà thơ từng trải thì trong trường hợp này, chọn cung trầm cho thơ là thích hợp nhất để trải lòng. Đây thực sự là một thử thách đối với nhà thơ. Bởi, tâm thức trở về hàm chứa khát vọng khám phá, khai quật những giá trị cũ đã bị che phủ, khuất lấp sau những bể dâu của lịch sử và đời người. Lại nữa, hình như bây giờ người ta đang mải ngóng về phía những tiếng thơ tân kỳ, ra sức chiếm lĩnh những chân trời không có thật, vô tình bỏ quên tiếng nói nặng sâu ân nghĩa với cội nguồn. Song, thơ vốn không thiên vị. Dù ồn ào, gào thét hay lặng lẽ, tâm tình, thơ nào chạm tới cõi thẳm của hồn người, thơ ấy được bảo tồn sự sống. “Người về tìm lá bể dâu” khơi dậy những vùng ký ức lịch sử, văn hóa ngàn đời của dân tộc, những mạch ngầm đã và đang âm thầm chảy trong mỗi cơ thể người Việt Nam.
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 12:56 - 27/10/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Chuyện con tê giác tuyệt chủng tại Việt Nam và cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” ầm ĩ mấy ngày qua, thiết nghĩ không có gì liên quan đến nhau. Nhưng mà có đấy! Thật tình cờ, mở cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” thấy bức tranh “Ác như con tê giác” vẽ cảnh một con tê giác vào vai “gã thợ săn” đang ngồi khoan thai, với bức tường phía sau gồm các “chiến lợi phẩm”, có cả đầu người treo trang trí. “Ác như con tê giác” mượn cách nói ngược trong dân gian, ví như: “Bao giờ cho tới tháng Ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”. Thật tình cờ, bởi con tê giác cuối cùng của Việt Nam vừa được khẳng định đã “theo ông theo bà” và một giống loài không còn “lang thang trên đất này” nữa. Nhưng “Ác như con tê giác” mở ra một “ngụ ngôn mới” trong biếm họa của tác giả Thành Phong.
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 16:39 - 26/10/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Giới cầm bút Hà Nội vừa vĩnh biệt nhà thơ Thanh Hào, một số phận kỳ lạ giữa thiên tai và địch họa chỉ trong vòng một năm, chứng nhân của sự sống không dễ bị khuất phục, đã vượt lên mọi hòan cảnh! Tên khai sinh: Nguyễn Văn Hào, sinh ngày 3 tháng 3 năm 1931, từ trần ngày 21 – 10 – 2011... Nhìn nước da màu đất, gương mặt bị thời gian cày sâu từng vết, ai cũng nghĩ Thanh Hào là một lão nông thực sự. Hồi trẻ, học dở dang trung học, ông đi làm thợ sắp chữ cho nhà in. Hết sắp chữ cho báo Quê Hương, rồi nhà in Xuân Thu, nhà in Ngô Tử Hạ. Rồi không biết có phải vì bực mình phải xếp chữ những thơ ca truyện ngắn ẩm ương cho các báo lá cải hồi ấy (Hà Nội 1952- 1954), ông cũng bắt đầu viết truyện ngắn, làm thơ.
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
[Vào lúc : 11:22 - 26/10/2011 | Chuyện mục :
Chuyện làng văn nghệ]
Đến Nha Trang theo chương trình cá nhân, nhưng Nguyên Ngọc lại được đón tiếp như một vị khách quý qua con đường “chính thống”: được ở phòng VIP Nhà khách Tỉnh ủy, được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chiêu đãi, được Đài truyền hình địa phương phỏng vấn và mời đi chơi biển… Chương trình làm việc khá bận rộn và đầy ắp… dinh dưỡng, đến nỗi đến ngày thứ 3 con gái ông – một chuyên viên toán học, ngoài giờ hội họp lại về ở với bố – bảo rằng mỗi lần nghe đến mấy chữ “đặc sản biển” là cô nổi hết da gà, chỉ mong được bữa cơm bình thường có canh lá giang, cá kho, rau luộc… Những ngày ở Nha Trang, đến đâu, hễ nghe tên Nguyên Ngọc, người quen kẻ lạ đều quây lại bắt tay chào hỏi, có người còn khoe con cháu họ vừa thi vào trường này trường nọ, khối C khối D môn văn có ra câu hỏi về tác phẩm của ông… Một lần, đang dùng bữa chiều tại sảnh chính Nhà hàng Hải Đảo, bữa ấy chúng tôi đi ít người và cố tình chọn một góc khuất để ngồi, ấy vậy mà ông vẫn bị một người nào đó phát hiện – người này tiến thẳng lên sân khấu của nhà hàng lớn tiếng đề nghị nhà văn ra mắt. Trong tình thế ấy Nguyên Ngọc chỉ còn biết đặt bát đũa xuống và cười. Khi đám đông thoắt im lặng để nghe ông nói đôi câu thay lời chào, tôi thấy Nguyên Ngọc run giọng.
Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59
Phân trang 15/94
10 11 12 13 14 15 16 17 18 19
[ Kiểu hiển thị
Trích dẫn |
Liệt kê ]
Những bài mới nhất