Đinh Quang Tốn đến với phê bình văn học muộn, sau khi ông đã là người làm thơ. Giống như tính cách khiêm nhường và kín đáo,lao động chữ của ông có phần âm thầm, lặng lẽ. Trong việc bình giá các tác phẩm và các giá trị văn học, cho dù có thái độ quyết liệt đến đâu Đinh Quang Tốn vẫn tìm được một lối thể hiện riêng có thể vừa thuyết phục độc giả lại vừa làm ấm lòng người sáng tạo. Ông không thuộc kiểu người làm phê bình gay gắt. Ông quan niệm làm phê bình phải trung thực, phải có Tâm, và quan trọng là phải tôn trọng nhà văn, tức là phải có Tình nữa. Coi văn chương là nghiệp và trên tinh thần nhìn nhận công việc viết văn là công việc bình thường như bao công việc khác, tập phê bình tiểu luận "Tản mạn nghiệp văn" (Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2009) của ông đã khẳng định giá trị chân chính của tác phẩm văn chương và nhà văn, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh mà người làm văn chương thường mắc phải trong cơ chế thị trường. Trò chuyện với chúng tôi, ông nhấn mạnh: “Đến các nhà phê bình già còn ẩn bóng thì các nhà phê bình trẻ thiếu vắng là phải. Lý do thì nhiều, thật khó để trả lời cho đầy đủ. Tôi chỉ có một ý nghĩ thế này, là phải chăng một phần do cơ chế hiện nay hàng thật thì khó bán mà hàng giả thì lại bán chạy?”
Bài thơ “ Đất nước thời gian lao” của Nguyễn Việt Chiến vừa được giải B cuộc thi thơ Tạp chí văn nghệ quân đội. Nhiều người nói với tôi, bài thơ ấy giải A mới xứng! Tôi…cười, một nụ cười gần giống nụ cười của tác giả bài thơ. Và tôi biết, nếu nghe câu ấy, Nguyễn Việt Chiến cũng sẽ…cười, như vậy. Một nụ cười hồn nhiên, nhưng tách bạch cả “phần cứng” và “phần mềm”. “Phần cứng” là những gì không thể thay đổi trong anh, còn “phần mềm” là cách ứng xử luôn nhẹ nhàng và đằm thắm của Nguyễn Việt Chiến: “Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo/ Áo phù sa lam lũ tháng ngày/ Câu quan họ cất trong bồ thóc cũ/ Sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…”
Tác giả nâng uy quyền của chúa rừng bằng cách đối diện với thiên nhiên, tạo hóa trong cả bốn bức tranh đó - đối diện với trăng, với mưa, với bình minh, với hoàng hôn. Và ở cả bốn khung cảnh, con hổ đều ở thế chế ngự - chú ý các động từ tả hoạt động của hổ trong bốn cảnh: “say mồi, đứng uống”, “lặng ngắm giang sơn”, “đợi mặt trời chết”, “để chiếm lấy”... Đẹp nhất, dữ dội, bi tráng nhất là cảnh hoàng hôn. Bức tranh rực rỡ trong gam đỏ: đỏ của máu lênh láng, đỏ của mặt trời gay gắt. Tác giả dùng chữ mảnh để gọi mặt trời, tưởng như mặt trời cũng bé đi trong mắt nhìn loài hổ. Không khí chết chóc bao trùm, gợi lên do máu lênh láng, do giây phút hấp hối gay gắt của mặt trời. Chỉ ít phút nữa vũ trụ sẽ chết lặng, ngự trị trong bóng tối, chỉ còn có oai linh của hổ. Đấy là điểm cao trào nhất của quyền lực, gần như sự bất tử...
Cuộc thi truyện ngắn Văn Nghệ Quân Đội kết thúc, tác giả Thuỵ Anh chỉ đoạt giải ba. Trong cuộc thi này hai truyện ngắn Lusia và Cây cải Tashkent lại „bay“ tới báo Văn nghệ và rơi vào Topten hai năm do Văn Nghệ tuyển chọn. Thật là đáng tiếc. Nói chung văn xuôi Thuỵ Anh không có nhân vật xấu để người đọc căm ghét. Dù ở bất cứ trạng thái sống nào, các nhân vật dẫu có dị tật bản năng hay dị tật sinh ra từ hoàn cảnh sống đều đáng thương, thậm chí có cả nét đáng yêu, như người dượng ở truyện cây cải cố gắng xoay chuyển, năng động kiếm tiền cho vợ con chả đáng yêu sao? Cuộc sống ở xứ người, cái ác của đồng loại, thậm chí của chính đồng bào mình không thiếu, tác giả cũng không né tránh nó, khi phản ánh điều ấy vào tác phẩm. Như chi tiết bọn Mafia Việt ở Cây cải Tashkent…Song ở Thuỵ Anh, hình như đào xới cái ác không phải chủ đích của chị (cũng là của nhiều nhà văn khác hiện nay). Các câu chuyện ở văn xuôi Thuỵ Anh, từ đoản văn tới các sáng tác dầy dặn ở cấp độ cao hơn, dầy công hơn, đều cố gắng đánh thức tính thiện của con người. Đọc Thuỵ Anh xong, dù có man mác buồn, người đọc vẫn thấy không quá bi quan.





