Chúng ta đưa tin ông Trần Đăng Tuấn ra khỏi biên chế Nhà nước nhưng chúng ta lại hơi mập mờ, không dám nói thẳng lý do vì sao ông Trần Đăng Tuấn ra đi. Trong khi đó, những ai quan tâm đều tự hiểu lý do ông Trần Đăng Tuấn phải "gạt lệ" ra đi khỏi Truyền Hình VN là cái gì. Việc nói thẳng lý do ông Trần Văn Tuấn ra đi không hề ảnh hưởng đến Truyền Hình VN hay đến đất nước. Ngược lại nó là một hành động dân chủ, một hành động minh bạch tạo ra một bài học về sử dụng và quản lý cán bộ. Nó cho thấy, nếu công tác tổ chức cán bộ không vì lợi ích chung thì những người tài giỏi hoặc sẽ không phát huy được tài năng của mình cho đất nước hoặc sẽ rời bỏ ra đi. Lúc đầu họ rời bỏ cơ quan Nhà nước đến với các tập đoàn tư nhân trong nước. Và đến một ngày nào đó họ đến với các tập đoàn nước ngoài. Rồi những người tài được đào tạo ở nước ngoài sẽ tìm cách ở lại nước ngoài làm việc và trở thành tài sản của nước đó chứ không phải của đất nước chúng ta…

Vào những năm tháng này, đời sống của nhà văn nước ta có dễ thở hơn. Đấy, phần nhiều trông cậy vào sự gồng thuê gánh mướn của con cháu. Vẫn không một nhà văn nào tạm sống nổi bằng nghề viết sách. Thêm vào đó công nghệ nghe nhìn đang nhỡn tiền bóp chết chữ nghĩa. Cặm cụi viết dăm ba tháng, bỏ tiền túi in ra được cuốn sách, đến nơi gặp gỡ trao sách tặng nhau mà dấm dúi, thì thào như đang bán mua "bạc giả". Còn những mối đe dọa, những nỗi lo liên quan đến chủ quyền đất nước; đến sự mất trắng cả một quá khứ được gột dựng nên bằng máu xương những người ruột rà, thân thích của chúng ta. Tệ nạn ăn cắp, ăn cướp tài sản công biến thành tài sản tư trong công cuộc xã hội hóa. Sự phân cách giàu nghèo, chiếc vòi bạch tuộc của sự tha hóa những chuẩn mực đạo đức xã hội đã bò lan đến giường ngủ của từng gia đình...Tất cả đang réo sôi, đang lồng lộn, quẫy đạp đòi biện pháp giải cứu... Các đồng nghiệp văn chương ơi! Trong chiếc chảo mỗi ngày mỗi nóng lên kia, xin đừng là những chú kiến chạy quáng chạy quàng đụng đầu vào nhau để rồi vọt tăng huyết áp, sửng cồ mà chửi bới, vặt diệc, cắn xé lẫn nhau.

THANH TÂM TUYỀN đi tìm tiếng nói


[Vào lúc : 15:15 - 26/08/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Cái mới ở thơ Thanh Tâm Tuyền, trước hết, là sự chủ thể hóa thực tại. Bởi thế, thơ ông trình hiện một cái tôi đa ngã. Không phải cái tôi nhất nguyên rã ra thành những bộ phận độc lập. Hay một kiểu sinh sản bằng cách tự sao lại bản mình. Càng không phải sự phân thân. Đa ngã là do đa thể. Bởi, con người vốn đa nguyên. Không chỉ ngoài con người có con người, mà, quan trọng hơn, trong con người có con người. Tôi là người là một người khác (Đừng bắt tôi từ biệt). Cái người khác ấy nhiều khi xa lạ với chính tôi, với chính sự hiểu biết của tôi. Nó đến từ những cơ tầng khác. Hồn là khởi nguyên tinh thần, xác là khởi nguyên sinh học. Hồn, xác hòa hợp thì con người trùng khít với bản thân, có sự khỏe mạnh của cái cây, tảng đá. Ở Thanh Tâm Tuyền thường thì hồn và xác lìa nhau, tạo ra những cái tôi khác nhau. Tôi luôn nhìn, và nhìn thấy, thể xác tôi bị đau đớn, chảy máu, bị đâm chém với một thái độ dửng dưng.

TRẦN ĐỨC TIẾN giữa Lỏng Và Tuột


[Vào lúc : 15:05 - 25/08/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Lâu nay, các nhà văn thành danh dường như… tắc tị. Cho dù họ vẫn viết, mài miệt viết, nhưng… chẳng ra làm sao, chẳng khác trước, chẳng vượt qua được những gì đã viết. Tất nhiên, họ tắc tị không phải vì vốn sống – cái đó thừa. Cũng chẳng phải sợ cấm đoán, kiểm duyệt. Bằng vào những gì nhiều ông phát biểu, viết lách trên các diễn đàn, blog, websita ngay trong nước, cho thấy họ chẳng còn sợ quái gì ai. Mà thời bây giờ, không in ấn tại các nhà xuất bản trong nước thì tung nó lên web chỉ bằng một cái click chuột. Vậy mà vẫn… tắc tị. Vì sao vậy ? Sang thời hội nhập, bằng vào cả một kho khổng lồ các tác phẩm đã xuất bản, người ta đã nhận ra viết theo cái lối phản ánh hiện thực sao cho “hùng hồn”, cho “chân thực”, cho “nóng hổi hơi thở thời đại”… xem ra “không ăn” nữa. Các nhà văn đã bắt đầu chú ý tới phương cách sáng tác mới, tới thay đổi giọng điệu, thay đổi cách viết… Nói cho sang, đã bắt đầu có ý thức cách tân, tìm tòi thi pháp mới của tiểu thuyết . Thực ra, chuyện đó trên thế giới người ta làm từ tám đời. Nào là “dòng ý thức”, “chữ tự động”, “chữ đẻ ra chữ”,  “hiện thực huyền ảo”… Thiên hạ làm chán ra rồi. Nhưng ở ta, ý thức cách tân về thi pháp cũng chỉ mới bộc lộ ở một số người viết trẻ. Trần Đức Tiến tuy không còn trẻ, nhưng qua tập truyện ngắn “Lỏng và tuột” vừa ra mắt bạn đọc cho thấy anh đang nỗ lực tìm tòi cho mình một giọng điệu mới.

BÙI NGỌC TẤN, Nhà Văn và HẮN


[Vào lúc : 17:56 - 24/08/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Bùi Ngọc Tấn đã là một trong những người trước nhất khai sinh lại cho “hắn”, cấp lại cho “hắn” một lý lịch, và thả “hắn” văn học vào đời. Có lẽ, chính xác hơn phải nói, Bùi Ngọc Tấn là người đầu tiên cho HẮN xuất hiện trở lại trong nền văn học xã hội chủ nghĩa vào thập niên cuối thế kỷ XX. Trong truyện “Người ở cực bên kia” của ông viết năm 1990 đại từ “hắn” đã tự nhiên có mặt như không thể khác. Một đại từ giành lại chỗ đứng dưới mặt trời trong kho từ vựng tiếng Việt hiện đại. Một con người, và một lớp người, ẩn sau đại từ ấy đòi được quyền hiện hình và lên tiếng. Hắn không vô danh. Hắn không hèn mọn. Hắn là người, có quyền làm người và nói lên tiếng nói người. Con người “hắn” bị gánh chịu lịch sử nhưng không cam chịu lịch sử. Nên lịch sử phải biện minh cho hắn, từ tất cả những gì đã xảy đến với hắn. HẮN đây là của Bùi Ngọc Tấn – con người, Bùi Ngọc Tấn – nhà văn. Ông đã khai triển đầy đủ, trọn vẹn, đa nghĩa, đa chiều “hắn” này trong bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm hai nghìn khởi bút cũng vào đầu thập niên cuối của thế kỷ hai mươi. Sau Bùi Ngọc Tấn chục năm, “hắn” mới lại hiện diện trên trang viết của Tạ Duy Anh, Nguyễn Khải.

Thức dậy niềm tin


[Vào lúc : 10:12 - 20/08/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Trong một cuộc trò chuyện, Ngô Bảo Châu khẳng định: “Làm toán thực ra là cực kỳ bạo lực với bản thân mình, lúc nào mình cũng phải lý trí, không bao giờ được chiều bản thân mình, không được chiều theo cái ham muốn hiện tại”. Tâm sự ấy không chỉ riêng với nhà toán học, mà bất kỳ công việc nào muốn hướng đến tầm cao đều phải đối mặt với sự cô độc, sự lạnh lùng và sự trả giá như vậy. Cộng đồng có thấu hiểu điều đó không? Ngay khi nỗi hào hứng giải Fields được trao cho một người Việt Nam, thì chính dân tộc Việt Nam phải nghĩ thật nghiêm túc về cách phát hiện, bồi đắp cho những nhân kiệt tương lai. Người Việt Nam rất dễ mủi lòng trước sự thương tâm, nhưng vẫn chưa hẳn đã biết cách chia sẻ với sự kỳ vĩ. Chẳng hạn, ai cũng dễ dàng cho cơm, cho áo một đứa trẻ đói rách gặp gỡ tình cờ, nhưng không mấy người sẵn sàng đóng góp tiền của cho… đứa trẻ hàng xóm học giỏi làm hay hơn con ruột mình!

DI LI bàn về phẩm vị ăn ngay nói thẳng


[Vào lúc : 11:30 - 19/08/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Người Việt chúng ta có chung một nét văn hóa là rất thành thật khi bình luận về người khác nhưng lại không thành thật khi nói về bản thân. Trong cuốn “Destination Saigon” (cuốn bút ký viết về Việt Nam được xuất bản tại Australia và đang bán rất chạy) tác giả Walter Mason, người Australia, đã nhận xét rằng anh vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra tính “ăn ngay nói thẳng” (bluntness) của người Việt. Người phương Tây thường không bình phẩm gì về một người đối diện khi trò chuyện trong một nhóm người. Walter Mason thổ lộ rằng “Trực tính này thật kỳ diệu vì không có việc gì bị che đậy. Ngay cả khi người ta nghe tôi nói tiếng Việt với họ, tức là họ biết tôi hiểu được tiếng Việt của họ, họ vẫn thản nhiên bình phẩm về tôi trước mặt tôi và trước mặt mọi người khác. Thoạt đầu, tôi cảm thấy bị chạm tự ái, nhưng sau đó tôi cảm thấy phóng khoáng vì việc gì cũng có thể thảo luận một cách thành thật”.

Y PHƯƠNG chào thua giới văn nhân


[Vào lúc : 11:25 - 18/08/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Nhà thơ Y Phương chân thành hé lộ sự thật với các đồng nghiệp vẫn đang mê muội quyền lực ở tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp: “Tôi đã tham gia Ban chấp hành một nhiệm kỳ. Nên quá biết nó như thế nào. Làm cái anh ủy viên oai oách gì đâu, béo bở gì đâu. Như ông phó bản vác chảo trâu đi qua thung lũng đá. Cái chảo trâu đúc bằng gang to đùng cồng kềnh, ai cũng nhìn thấy nhưng rất dễ va vấp. Cơ mà thỉnh thoảng cũng được thay mặt Hội Nhà văn quốc gia đi ký kết với bạn. Được ôm hôn tây tàu. Được nhăn nhở cười cười chụp ảnh. Làm trưởng đoàn nên ăn nói phải lưu loát, dõng dạc. Trả lời phỏng vấn phải đắn đo cân nhắc. Công an nổi chìm len lỏi khắp hành tinh. Đừng có đùa. Ôi! Làm cái anh vác chảo trâu vô cùng mệt mà chả được tích sự gì. Trong ví có mấy đồng tiền Việt, phòng khi giữa đường tắc xăng máy bay, còn có cái để mà ăn. Thấy tình hình nhếch nhác quá, mấy nhà doanh nghiệp Việt kiều thương hại, biếu vài tờ đô tiêu vặt…”

Đêm qua, Hoa hậu Việt Nam 2010 Đặng Thị Ngọc Hân vừa đăng quang tại Tuần Châu. Xã hội có thêm một cô gái được vinh danh bằng vương miện nhan sắc, nhưng cái đẹp ấy có đóng góp được gì cho cộng đồng hay không, lại là chuyện khác. Hoa hậu Việt Nam 2004 – Nguyễn Thị Huyền sau thời gian du học bên Anh, đã trở về nước thực hiện chương trình “Cuộc sống vẫn tươi đẹp” trên VTV4 với không ít thao thức: “Chương trình đầu tiên nhiều nước mắt. Những nhân vật đầu tiên của tôi trong chương trình “Cuộc sống vẫn tươi đẹp” không có lỗi gì, nhưng tại sao họ phải gánh chịu sự hủy diệt của dioxin từ những kẻ đi gieo rắc tội ác? Câu hỏi ấy, tôi không trả lời được. Và mỗi lần câu hỏi ấy nhói lên trong lòng, tôi lại muốn khóc. “Cuộc sống vẫn tươi đẹp”, vâng, tôi đang tin như vậy, và sẽ cố gắng tin như vậy khi chứng kiến sự tận tụy làm người của những số phận kém may mắn. Thế nhưng, nếu muốn “cuộc sống vẫn tươi đẹp” thì không những cần tấm lòng, mà còn cần công lý nữa: công lý cho những nạn nhân chất độc màu da cam!”

Thơ MAI LIỄU chắc bền nhờ cội rễ


[Vào lúc : 17:43 - 13/08/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Nhà thơ Mai Liễu là tác giả của 7 tập thơ: Suối làng  (1994), Mây vẫn bay về núi (1995), Lời then ai buộc (1996), Tìm tuổi (1998), Giấc mơ của núi  (2001), Đầu nguồn mây trắng (2004), Bếp lửa nhà sàn  (2005). Trong thơ Mai Liễu, cao hơn việc miêu tả, là sự liên tưởng rồi chân thành bộc bạch của nhà thơ về những con suối quê hương: Nơi sâu lắng lời ru, nơi ào ào thác đổ/Nơi miên man suối hát khúc tâm tình (Quê hương); Suối làng tôi bắt nguồn từ nơi ấy/Là ngọn nguồn trong trẻo của đời tôi (Suối làng trong trẻo). Suối là hình tượng đẹp đẽ và đặc trưng nhất của cội nguồn trong thơ Mai Liễu. Con suối gắn bó với người miền núi, bởi vậy nó xuất hiện nhiều trong thơ các dân tộc thiểu số nói chung, thơ Tày nói riêng, nhưng có lẽ Mai Liễu là nhà thơ Tày khai thác hình tượng này nhiều nhất. Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ quan niệm giản dị của nhà thơ khi cầm bút: “Thơ tôi chủ yếu là niềm tự hào và những kỉ niệm về quê hương. Càng đi xa, đi lâu thì kỉ niệm càng sâu, càng bền. Mỗi con suối, dòng sông, ngọn núi, đồi cây, bếp lửa, mái nhà sàn, ngày hội, điệu hát, chim muông... đều có hồn, có tiếng nói riêng của chúng. Tôi cố gắng lắng nghe, ngẫm ngợi và ghi lại chúng. Thực ra, đó cũng là ân tình của người viết đối với miền quê và cuộc đời”

Phân trang 1/49 Trang đầu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất