Tác giả nâng uy quyền của chúa rừng bằng cách đối diện với thiên nhiên, tạo hóa trong cả bốn bức tranh đó - đối diện với trăng, với mưa, với bình minh, với hoàng hôn. Và ở cả bốn khung cảnh, con hổ đều ở thế chế ngự - chú ý các động từ tả hoạt động của hổ trong bốn cảnh: “say mồi, đứng uống”, “lặng ngắm giang sơn”, “đợi mặt trời chết”, “để chiếm lấy”... Đẹp nhất, dữ dội, bi tráng nhất là cảnh hoàng hôn. Bức tranh rực rỡ trong gam đỏ: đỏ của máu lênh láng, đỏ của mặt trời gay gắt. Tác giả dùng chữ mảnh để gọi mặt trời, tưởng như mặt trời cũng bé đi trong mắt nhìn loài hổ. Không khí chết chóc bao trùm, gợi lên do máu lênh láng, do giây phút hấp hối gay gắt của mặt trời. Chỉ ít phút nữa vũ trụ sẽ chết lặng, ngự trị trong bóng tối, chỉ còn có oai linh của hổ. Đấy là điểm cao trào nhất của quyền lực, gần như sự bất tử...
Cuộc thi truyện ngắn Văn Nghệ Quân Đội kết thúc, tác giả Thuỵ Anh chỉ đoạt giải ba. Trong cuộc thi này hai truyện ngắn Lusia và Cây cải Tashkent lại „bay“ tới báo Văn nghệ và rơi vào Topten hai năm do Văn Nghệ tuyển chọn. Thật là đáng tiếc. Nói chung văn xuôi Thuỵ Anh không có nhân vật xấu để người đọc căm ghét. Dù ở bất cứ trạng thái sống nào, các nhân vật dẫu có dị tật bản năng hay dị tật sinh ra từ hoàn cảnh sống đều đáng thương, thậm chí có cả nét đáng yêu, như người dượng ở truyện cây cải cố gắng xoay chuyển, năng động kiếm tiền cho vợ con chả đáng yêu sao? Cuộc sống ở xứ người, cái ác của đồng loại, thậm chí của chính đồng bào mình không thiếu, tác giả cũng không né tránh nó, khi phản ánh điều ấy vào tác phẩm. Như chi tiết bọn Mafia Việt ở Cây cải Tashkent…Song ở Thuỵ Anh, hình như đào xới cái ác không phải chủ đích của chị (cũng là của nhiều nhà văn khác hiện nay). Các câu chuyện ở văn xuôi Thuỵ Anh, từ đoản văn tới các sáng tác dầy dặn ở cấp độ cao hơn, dầy công hơn, đều cố gắng đánh thức tính thiện của con người. Đọc Thuỵ Anh xong, dù có man mác buồn, người đọc vẫn thấy không quá bi quan.
Làm thơ theo mơ mộng là kiểu làm thơ của thời xa xưa, thời mà người ta thiếu thốn quá, nên nghĩ tới một chén rượu ngon, một miếng ăn ngon; ở cõi trần tục này gian khổ quá, người ta nghĩ đến một thế giới huyền ảo. Thơ bây giờ tồn tại trong hiện thực. Thơ thời càng hiện đại càng tồn tại trong hiện thực, cũng như ngôn ngữ thơ ngày càng gần với ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ văn xuôi chứ không tách ra, giữa ngôn ngữ đời thường với ngôn ngữ thơ là hai thế giới khác. Chuyện đó là của thời đã qua rồi. Cái mà ngày xưa gọi là mơ mộng ấy, bây giờ gọi là liên tưởng, dẫn từ một ý tưởng, từ một sự thực này đến một sự thực khác, từ cõi thực thăng hoa thành cái ảo. Và cái ảo đó trở lại tác động đến cõi thực, chứ không phải là mộng mơ theo kiểu những người làm thơ thời xa xưa.






