Tâm hồn nhà văn có cần dây bảo hiểm ?


[Vào lúc : 16:59 - 05/10/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên phản biện: "Trên báo Sức khỏe và Đời sống số ra ngày thứ Năm, 26/8/2010, có bài “Hình sự hóa các quan hệ văn chương?” của nhà văn Phạm Viết Đào. Sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần và suy nghĩ, tôi thấy có một vài ý kiến cần trao đổi, ngõ hầu mở rộng thêm đường dư luận về vấn đề này.Thật sự Thượng đế có sống lại cũng phải ôm bụng mà cười khi có một ông nhà văn vào cuối thập niên thứ nhất của thế kỷ XXI đòi “dây bảo hiểm” để cột tâm hồn mình lại mới có thể sáng tạo ra những tác phẩm văn chương hay phục vụ công chúng được. Có lẽ tác giả bài báo dù là nhà văn, nhưng không phải là người chuyên sáng tác nên mới có những đòi hỏi “khác người” như vậy. Còn lý do nền văn chương chúng ta trong thời gian qua chưa có những tác phẩm đỉnh cao lại là một câu chuyện dài khác, mà không thể một người, hay một nhóm người trong một sớm một chiều có thể giải quyết được!"

VŨ QUẦN PHƯƠNG đọc lại thơ TỐ HỮU


[Vào lúc : 11:07 - 05/10/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Nhiều thập niên trong thế kỷ trước, ở ta, nói đến thơ là nói đến Tố Hữu, thậm chí, chỉ với Tố Hữu là đủ. Rất nhiều cuộc thi tốt nghiệp phổ thông lấy thơ Tố Hữu làm đề bài. Nhiều luận án đại học, sau đại học lấy thơ Tố Hữu làm nội dung. Nhiều chuyên luận về Tố Hữu được xuất bản. Những việc ấy hợp lí vì Tố Hữu là nhà thơ tài năng. Nhưng cũng có gì thái quá. Thái quá nên làm mờ cả tính khoa học và sức thuyết phục trong những biểu dương thơ Tố Hữu. Ấy vậy mà trong hơn một thập niên vừa qua, thì thơ Tố Hữu bỗng nhiến vắng hẳn trong dư luận văn chương. Các thầy ở trường đại học cho biết số khóa luận chọn Thơ Tố Hữu làm đề tài trở nên hiếm hoi. Đây là kết quả của thay đổi nhận thức xã hội, của chuyển biến thẩm mỹ hay chỉ là biểu hiện của thời thượng, của sự mất thăng bằng tâm trí? Tố Hữu tạ thế đã tám năm. Di sản ông để lại đã định hình trong kho tàng văn chương nước nhà. Hôm nay chúng ta, ít nhiều, đã có đủ độ lùi thời gian để bao quát khối di sản văn chương đó. Chúng tôi xin được đọc ông như đọc Tản Đà, đọc Tú Xương, Nguyễn Khuyến, đọc Lê Thánh Tôn, đọc Mãn Giác thiền sư. Thành kính, trân trọng và công bằng, khoa học.

TÔ HOÀI và những điều tử tế với Hà Nội


[Vào lúc : 14:52 - 04/10/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Nhà văn Tô Hoài nhận định: “Hà Nội bây giờ hay trước đây cũng thế, đều có sự tập hợp của nhiều người, nhiều vùng miền. Ở mỗi địa phương, họ đều có nét văn hóa và phong tục tập quán riêng nhưng điều đó chẳng có gì đáng ngại. Hà Nội không hề bị đồng hóa bởi các nền văn hóa khác, mà chỉ làm phong phú thêm văn hóa Hà Nội. Tôi nhận thấy người dân ở các tỉnh thành khác về Hà Nội sinh sống, học tập và làm việc rất đông nhưng theo ý kiến chủ quan của tôi, người Nghệ An là nên người nhiều nhất. Họ vốn thông minh, chịu khó và rất chịu quan sát để hòa đồng. Ví dụ như trường hợp nhà thơ Hoàng Trung Thông. Anh ấy là người Nghệ An mang đậm chất văn hóa xứ Nghệ trong ngôn ngữ, ứng xử nhưng con cái của anh ấy đã Hà Nội hóa, các cháu nói tiếng Hà Nội, ứng xử như người Hà Nội... Tôi cho rằng không nên lo lắng quá, duy tâm quá vì như vậy rất nguy hiểm”

Văn chương mất mùa, hay niềm tin đổ vỡ ?


[Vào lúc : 15:11 - 01/10/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Văn trẻ hôm nay tuy cũng có những cái để đọc, những điều để nghĩ, nhưng có lẽ người ta chỉ nghĩ đến khía cạnh quẫy đạp về suy tư, phóng túng quá mức, theo kiểu bặm trợn, huỵch toẹt trong ngôn ngữ và cách diễn đạt. Nhìn từ một khía cạnh nào đó, không ít người cho rằng văn trẻ đang cố gắng thể hiện mình như là đối trọng của giai đoạn văn chương trước đó, chứ ít ai nghĩ đến các giá trị thực của bản thân văn chương thế hệ 8x - 9x. Cùng lắm văn trẻ trong quãng 10 năm trở lại đây chỉ là sự trưng diện một tấm áo mới, còn hồn cốt của người mặc áo chưa có đổi thay là bao. Họ chưa hề có gì đáng để công chúng cần phải suy tư về giá trị thực của cuộc sống và con người. Một số người có ý định bứt phá nhưng xem ra bút lực hãy còn non nớt nên chỉ có thể sản sinh ra những bán thành phẩm văn chương, thậm chí là sinh ra những quái thai văn chương mà không ít người ngộ nhận rằng đấy là những tác phẩm văn chương đích thực, có giá trị. Một trong những quái thai văn chương ấy là những cuốn sách mà các cụ nhà ta ngày xưa gọi là "dâm thư" được sản xuất vô tội vạ.

Chưa bao giờ thị phần văn học bị co hẹp như bây giờ. Thói quen đọc sách đang thay đổi quá nhanh. Không ít độc giả thích săn đuổi những cảm giác mạnh, những cuốn sách vuốt ve thị hiếu nhất thời hơn là quan tâm đến sự thâm thúy và tao nhã của văn chương. Vậy thì điều gì đã làm độc giả quay lưng lại với văn học? Nhà thơ Dương Thuấn nói về việc làm cách nào “quất con ngựa” sáng tác lồng lên để lôi kéo công chúng quay lại với văn học: “Nhà văn chân chính sẽ không bao giờ chạy theo độc giả. Độc giả mỗi lúc có những sở thích khác nhau, điều đó rất bình thường. Xã hội không nên lo lắng về điều đó, khi mà nhà văn viết chưa hay, chưa phản ánh đúng hiện thực cuộc sống của họ thì độc giả có quyền tìm những thứ giải trí khác. Độc giả chỉ thực sự chú ý đến văn học khi hiện thực được phơi bày tận gốc và nói đúng tâm tư nguyện vọng của họ, tức là nhà văn phải đi vào những vấn đề nhân bản cốt lõi nhất của con người”

Văn học Việt, sao vẫn chưa trưởng thành ?


[Vào lúc : 15:08 - 28/09/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức đưa ra kiến giải: “Văn thơ là con đường chủ đạo huyết mạch của một nền văn hóa, tôi rất hiểu cũng như rất thận trọng khi đưa ra đánh giá, bởi vì đánh giá là bình xét những cây bút, những tác giả, những con người tham gia vào cuộc phiêu lưu tìm mảnh đất sáng tạo, vì thế không cho phép ai đó được phiên phiến, qua loa hoặc ngạo mạn đưa ra đánh giá. Vậy thì một lần nữa chúng ta lại phải xem xét lại đánh giá của Hội Nhà văn, nói chung: Văn học Việt Nam chưa có tác phẩm xứng đáng ngang tầm thời đại, mới chỉ có tác phẩm bé và vừa. Về sáng tạo thiên bẩm, đã nhiều lần tôi tranh luận và đưa ra ý kiến khó mà phản bác rằng: thiên bẩm trong sáng tạo ở Việt Nam khó có ai vỗ ngực được nhiều hơn nhà thơ Trần Đăng Khoa. Đó là nhà thơ số 1 lúc trẻ con. Nhưng khi lớn lên, Trần Đăng Khoa đứng số mấy? Có trưởng thành? Có thành thi hào thi bá gì không?”

Nguyễn Đình Tú khước từ lối kể chuyện tuyến tính, ngay cả trong cách kể phi tuyến tính thì câu chuyện anh kể cứ bện xoắn vào nhau theo kiểu đồng hiện kép. Đặc biệt, trong "Nháp", anh đã để cho Thạch kể chuyện khá ngẫu hứng như nhạc jazz, cứ một đoạn kể chuyện mình lại nhớ chuyện của Đại. Bất cứ điều gì đó gợi nhớ đến Đại như mắt nâu, cây sấu… Thạch lại hồi ức. Tuy vậy, nhờ xử lí khéo léo và dẫn dắt hợp lí, người đọc không bị sa vào “ma trận thời gian” của các sự kiện, câu chuyện vẫn mạch lạc và hấp dẫn. Khi kể chuyện, Nguyễn Đình Tú rất ý thức trong việc đặt điểm nhìn không, thời gian nhưng có thể nói điểm nhìn tác giả và nhân vật mới là điểm nhấn đáng chú ý nhất trong nghệ thuật kể chuyện của anh. Tác giả của “Phiên bản”  không xem mình là người kể chuyện toàn tri, là “chủ nhân ông biết tuốt”.

Lúc còn sống, Lãng Thanh đã có tự tay tuyển chọn một số bài thơ với ham muốn trình làng một thi phẩm mang phong cách cá nhân. Đột ngột rời bỏ dương thế, di cảo ấy của Lãng Thanh được NXB Thanh Niên in thành tập “Hoa” vào năm 2003, vỏn vẹn 14 bài. Để tiếp tục tưởng tiếc Lãng Thanh, bạn bè đã tái bản “Hoa” và in thêm “những trang viết còn lại” gồm 7 bài thơ mới tìm thấy, thơ dịch, lời ca khúc và tản văn. Tuy nhiên, dường như Lãng Thanh đã tiên liệu được số phận mình, cho nên phần thơ do chính Lãng Thanh sắp xếp thành tác phẩm hoàn chỉnh đã bộc lộ toàn bộ tinh túy của anh, mà “những trang viết còn lại” chỉ giống như dư vị nhớ thương thôi. Và một miền “Hoa” cũng đủ để dành cho Lãng Thanh một vị trí tỏa hương trong lòng người yêu thơ!

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định nguyên nhân xuất hiện bài viết này: “Tôi đến dự Hội thảo về Nguyễn Huy Tưởng sáng 24/9/2010 là do nhận lời mời của con trai nhà văn. Từ vài tháng trước trở lại đây, Nguyễn Huy Thắng đã vài ba lần gọi điện thoại cho tôi, đề nghị tôi viết tham luận. Tôi đang bận nên chỉ nhận lời phát biểu. Thắng hỏi kỹ tôi sẽ nói đề tài gì, tôi nói đề tài “Nguyễn Huy Tưởng với trách nhiệm xã hội của nhà văn”. Sáng 24/9 tôi tới hội trường số 9 Nguyễn Đình Chiểu dự hội thảo, chỉ mong được nói sớm rồi trở ra Thư viện với các việc đang bỏ dở. Xem tờ chương trình thấy mình được bố trí nói thứ 8, thấy hơi muộn, nhưng dằn lòng ngồi lại. Chị Phạm Thị Thành ngồi cạnh bảo anh sẽ được nói trước tôi; tôi chìa cho chị xem mảnh giấy nhỏ bằng ba ngón tay ghi 2 gạch đầu dòng sẽ nói, bảo tôi sẽ nói ngắn. Lần lượt, tới Phạm Xuân Nguyên, rồi Vũ Quần Phương… vẫn trong thứ tự. Gần tới mình rồi. Tôi nhấp ngụm nước, chuẩn bị đứng lên. Vậy mà không, người điều khiển chương trình mời người khác, rồi người khác nữa, người khác nữa… Rồi gia đình nhà văn nói lời cảm ơn. Rồi nhà xuất bản Kim Đồng đọc tổng kết. Rồi hội thảo giải tán. Không ai trong ban tổ chức hội thảo hay gia đình nhà văn có một lời nào với tôi. Tôi ra về trong tâm trạng hối hận vì đã tới cái hội trường số 9 Nguyễn Đình Chiểu này. Người có tham luận viết sẵn có thể nộp ban tổ chức, còn tôi, những lời định nói vẫn còn trong đầu, tôi phải làm gì? Chỉ có cách viết nó ra rồi mới có thể đi làm việc khác. Tôi đã viết ra, và bây giờ tôi gửi cho, trước tiên, trang web Hội Nhà Văn, xin đề nghị đăng nguyên văn, kể cả đoạn thuyết minh này, cho biết vì sao đây lại là Ý KIẾN CHƯA PHÁT BIỂU TẠI HỘI THẢO VỀ NGUYỄN HUY TƯỞNG.  Tôi cũng sẽ gửi đến một vài trang blog khác, luôn thể để bạn đọc kiểm tra xem những ai thích biên tập cắt xén của nhau và biên tập cắt xén như thế nào. Còn về nội dung, sẽ mỗi người một kiểu nhận xét, ấy là đương nhiên”

Hoa nhài vẫn thơm nẻo Tràng An


[Vào lúc : 09:37 - 24/09/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Sau khi giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Thái về hai câu ca dao quen thuộc mang ý nghĩa đầy tự hào của người thủ đô, lethieunhon.com nhận được nhiều ý kiến trao đổi khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Để tất cả chúng ta đều có thêm tư liệu tham khảo nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, xin đăng tải góc nhìn của tác giả Đỗ Ngọc Yên: “Câu ca dao “chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” gồm hai vế và có thể được hiểu là thơm như hoa nhài và thanh lịch như người Tràng An. Hai vế ấy đặt cạnh nhau cho phép người ta suy ra đức tính thanh lịch của người Tràng An được ví như hương thơm của hoa nhài. Và cũng còn một cách hiểu khác nữa là người Tràng An ắt phải thanh lịch, cũng như hoa nhài ắt phải thơm, như một lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, điều làm cho không ít người băn khoăn, thắc mắc ở đây không phải là các phẩm chất, đức tính hay hương vị của người Tràng An và hoa nhài. Cái chính là người Tràng An ở đâu mà gắn bó mật thiết với đức tính thanh lịch, như một sự tất yếu không thể phủ nhận được, giống như mùi thơm của hương hoa nhài vậy”

Phân trang 39/90 Trang đầu Trang trước 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất