Xin ông cho biết, ông có tiền Canada không? Không, tôi không có tiền Canada. Vậy ông có đô la Mỹ không? Có một ít. "Một ít" là bao nhiêu? Sáu bảy chục đô. Đi với con gái thì cần gì nhiều tiền? Nhưng an ninh Hoa Kỳ khiến cha con tôi rối cả lên nên không còn nhớ gì đến tiền bạc hết. Cô gái mỉm cười thông cảm. Ông có bị bệnh gì nặng không? Không hề. Tôi sực nghĩ, cô này hỏi vậy, nếu mình nói là không có xu nào và đang bị bệnh tiểu đường tip 2 mức vừa vừa… thì răng hè? Cô cho tiền dắt túi chắc? Ngay lúc đó tôi đã lờ mờ đoán mục đích của các câu hỏi rất bếp núc đó và sau này bạn bè Canada cho biết thêm, nếu tôi khai vậy thì chắc chắn trạm biên giới này sẽ phải bảo đảm cho tôi số tiền ăn tối thiểu, và cả chỗ tạm trú nếu anh không có chỗ ở để không phải lang thang. Còn nếu anh có bệnh nặng thì họ cũng phải làm sao đó để tôi không bị nguy hiểm một khi bệnh bột phát bất ngờ. Bởi, nếu trường hợp xấu đó xảy ra, một khi điều tra phát hiện tai nạn do sự không chu đáo từ trạm biên giới này thì cô nhân viên đó và cả trạm sẽ bị kỷ luật rất nặng. Ô chà chà, dù là trách nhiệm có trong quy định tác nghiệp, nhưng quy định sao mà nhân đạo, sao quá hay vậy!
Những ngày giáp Tết, lethieunhon.com liên tục những được thư thăm hỏi và chúc mừng của bạn đọc khắp nơi. Xúc động nhất là tình cảm của những kiều bào đang sống xa tổ quốc, kèm theo cánh thiệp điện tử được thiết kế xinh xắn là câu hỏi ngập ngừng thật đáng trân trọng: “Tết cổ truyền dân tộc, chủ web có đóng cửa ăn Tết không?”. Thì ra cái địa chỉ nhỏ bé lethieunhon.com cũng gần giống như một điểm hẹn để mỗi ngày bạn bè ghé qua tìm chút hương vị chậm rãi giữa cuộc sống bộn bề. Xin thú thật rằng, trang web này được mở ra trước hết để làm nơi lưu trữ cá nhân, sau đó hy vọng có thể giúp những độc giả vùng sâu, vùng xa hoặc người Việt tha hương ít có điều kiện mua sách, mua báo có thêm một kênh tham khảo chữ nghĩa. Vì vậy, bà con cứ yên tâm, lethieunhon.com vẫn liên tục cập nhật trong mấy ngày Tết.
Nhà văn Nguyễn Thành Long, tên gọi rồng phượng thế, nhưng suốt đời lận đận. Hồi ấy lận đận vì bài kí “Cái gốc” làm lộ tiềm lực hậu phương miền Bắc. Trước đó nữa, hồi còn đấu tranh thống nhất theo hiệp định Genève, thì một truyện ngắn nhớ quê của anh bị phê là bi quan. Phê thôi, không có gì to tát nhưng cũng đã thành người có lỗi. Anh mang mặc cảm ấy trong cả đời người nhưng không để một gợn bực bội cá nhân nào lẫn vào tác phẩm. Nguyễn Thành Long được anh em trong giới gọi là "cây truyện ngắn” có lẽ vì vẻ đẹp thuần khiết trong văn anh, trong tâm hồn anh. Tôi thắp hương lên bàn thờ anh chị Nguyễn Thành Long, trong căn nhà ấm cúng của vợ chồng con gái anh ở đất New York vốn biết bao xa lạ với anh, mà trong lòng thấy cồn lên bao ý nghĩ về năm tháng đời người.
Nói nhà thơ không thì thiếu, bởi người phụ nữ đa đoan này có trong tay một “bộ sưu tập nhà”. Nhà giáo, nhà báo, nhà thơ và nhà lý luận phê bình văn học. Nhưng thơ là tất cả đối với chị, nó là người bạn tri kỷ để chị trút hết những nỗi niềm trong cõi đời xô bồ mà từ khi “mang nặng kiếp người” chị đã nếm trải không ít những truân chuyên. Đó là Chu Thị Thơm, nữ nhà thơ cầm tinh con cọp, với những tác phẩm đã in: Từ cõi ảo (tiểu luận và phê bình văn học-2004); Dự cảm mùa thu (tập thơ-2005); Chuyện làng giáo- làng văn (tạp cảm-2006); Gió và em (tập thơ- 2008); Chiều muộn (tập truyện ngắn-2009)…Ngoài đời, chị là người vui vẻ, hay đùa tếu. Chị không bao giờ để những người tiếp xúc với mình có cảm giác khó chịu, hoặc ngượng ngập-kể cả những người mà chị không ưa.
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng kể về một nhà văn được đào tạo trong môi trường ngôn ngữ của nông thôn: “Thời đi học tôi luôn luôn là người bé nhất lớp và cũng được cưng chiều nhất lớp. Thế hệ chúng tôi có rất nhiều người thành danh trong các lĩnh vực khác nhau. Họ là những thầy giáo đầu tiên sau ngày giải phóng Thủ đô dạy ở các Trường Đại học và nay đều đã về hưu hết cả, mặc dầu nhiều người vẫn còn đang tham gia các hoạt động xã hội hoặc hướng dẫn các cán bộ trẻ trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, trở thành nhà văn tài hoa có lẽ chỉ có một người. Đó là Ma Văn Kháng. Gần đây Kháng bị bệnh tim phải vào điều trị tại Viện Tim mạch Trung ương, nơi em trai tôi làm Viện trưởng. Tôi giao cho Lân Việt phải chăm sóc Kháng, vậy mà một tháng sau Lân Việt mới tìm thấy ông nhà văn bạn thân của anh mình. Hóa ra Kháng lấy tên khai sinh ghi trong y bạ là Đinh Trọng Đoàn, nên Lân Việt không thấy có bệnh nhân nào tên Ma Văn Kháng nhập viện…”
Hiện tại kinh phí dàn dựng giữa sân khấu nhà nước và sân khấu tư nhân đều ngang nhau ở mức 300-400 triệu cho mỗi vở diễn. Ba vở diễn lấy đề tài lịch sử khiến người xem thích mắt là “Ngàn năm tình sử” của sân khấu IDECAF và “Nỏ thần” của sân khấu Phú Nhuận không thua kém gì khi đặt cạnh “Mỹ nhân và anh hùng” của Nhà hát Tuổi Trẻ. Và có lẽ đây là ba vở diễn đáng lưu ý nhất trong năm 2009 với nhiều điều nên được đánh giá một cách sòng phẳng. “Ngàn năm tình sử” muốn đưa ra một cách nhìn khác về danh tướng Lý Thường Kiệt, còn “Mỹ nhân và anh hùng” muốn phác thảo rõ nét chân dung nữ vương Lý Chiêu Hoàng, nhưng chỉ dừng ở góc độ miêu tả lịch sử, chứ chưa đủ khơi dậy tâm thức hiện đại. Khi xem bất kỳ vở kịch lịch sử nào, thì điều khán giả nung nấu chờ đợi nhất là những diễn ngôn rúng động tâm can người đương thời. Dù hai nhà viết kịch Nguyễn Quang Lập và Chu Thơm đã dồn nhiều nhiệt huyết mỗi nhân vật, nhưng “Ngàn năm tình sử” lẫn “Mỹ nhân và anh hùng” chỉ mới có được những đối đáp chớp nhoáng lý giải mâu thuẫn mà thôi! Còn vở kịch “Nỏ thần” không những không có diễn ngôn mà còn trống trải cả những cảm thức mới mẻ cần thiết của một tác phẩm sân khấu ngoảnh lại quá khứ. Nhiều trường đoạn của “Nỏ thần” chẳng khác gì hoạt cảnh minh họa cho truyền thuyết thành Cổ Loa!
Mười bốn năm ở rừng, cái Tết sâu đậm nhứt trong tôi, cũng như nhiều người thời ấy, là Tết Mậu Thân năm 1968. Tôi dự suốt trận đánh ấy, từ giữa năm 1967 đã được điều về khu Sài Gòn-Gia Định, dự các khóa tập huấn, tuy không được phổ biến cụ thể nhưng ai nấy đều cảm thấy sắp có trận đánh lớn có tính chất quyết định. Và lạ sao, như sau này được biết, bộ máy chiến tranh khổng lồ của quân Mỹ với dàn quân CIA thiện chiến không mảy may đánh hơi được chút nào về trận đánh, vậy mà người dân bình thường quanh thành phố đều cảm thấy được, từng cánh quân chúng tôi áp sát vào thành phố được người dân ở đây đón tiếp với thái độ chăm sóc đặc biệt khác thường.
Nguyễn Đặng Tường Vy vừa giành được giải nhì trong cuộc thi sáng tác thơ với chủ đề “Tôi đi tìm tôi” tổ chức trên tập san Áo Trắng. Nếu chỉ mỗi bài “Bởi có những mùa đi tìm cuộc sống” thì chưa thể nói lên điều gì về một cây bút nữ đang là học sinh lớp 12 Văn (Trường THPT Lương Văn Chánh, Phú Yên) nhưng chùm thơ 5 bài mà Nguyễn Đặng Tường Vy gửi đến lethieunhon.com ít nhiều có thể chứng minh một gương mặt mới thuộc thế hệ 9X đã xuất hiện. So với cây bút thơ từng thành danh khi còn mặc áo dài nữ sinh như Đinh Thu Hiền, Đường Hải Yến, Bình Nguyên Trang… thì Nguyễn Đặng Tường Vy ngổn ngang hơn qua những liên tưởng giàu trắc ẩn!
Nhà thơ Bùi Kim Anh hồi tưởng: “Chợ Hôm trước nhỏ thôi, nhưng cũng đủ mặt hàng. Chợ Mơ lúc đó vẫn còn chợ phiên. Đi chợ phiên nhiều hàng của cả người sản xuất mang bán. Mua chó mèo thì cũng phải chợ phiên mới có và có nhiều. Nhà tôi ở cuối phố Trần Quốc Toản. Bà đi bộ đến chợ Hôm đã xa, xuống chợ Mơ phải đi tàu điện. Với tôi thì được đi tàu điện thật thú vị. Ngồi cạnh bà, nắm chặt áo bà nhìn ngang xuống hai bên phố Huế rồi Bach Mai. Với tôi, cô bé học cấp 1 lúc đó như một chuyến đi xa đầy điều mới lạ. Hà Nội xưa nhỏ bé và tầm nhìn cũng gần gụi thôi. Phố xưa yên tĩnh nên được đi đến chợ Mơ ngày phiên là cả mơ ước. Bà mua nhiều thứ, còn tôi ngó đủ thứ. Bà ăn trầu thuốc nên mua những cây vỏ thật dày cùi và đỏ tía, mua chùm cau to tròn. Sau này khi bà không đi chợ xa được nữa tôi thường mua trầu cau cho bà. Tôi cũng chọn vỏ ngon lắm. Người bán cũng là người mua, thật vui”
Cuộc thi truyện ngắn Văn Nghệ Quân Đội kết thúc, tác giả Thuỵ Anh chỉ đoạt giải ba. Trong cuộc thi này hai truyện ngắn Lusia và Cây cải Tashkent lại „bay“ tới báo Văn nghệ và rơi vào Topten hai năm do Văn Nghệ tuyển chọn. Thật là đáng tiếc. Nói chung văn xuôi Thuỵ Anh không có nhân vật xấu để người đọc căm ghét. Dù ở bất cứ trạng thái sống nào, các nhân vật dẫu có dị tật bản năng hay dị tật sinh ra từ hoàn cảnh sống đều đáng thương, thậm chí có cả nét đáng yêu, như người dượng ở truyện cây cải cố gắng xoay chuyển, năng động kiếm tiền cho vợ con chả đáng yêu sao? Cuộc sống ở xứ người, cái ác của đồng loại, thậm chí của chính đồng bào mình không thiếu, tác giả cũng không né tránh nó, khi phản ánh điều ấy vào tác phẩm. Như chi tiết bọn Mafia Việt ở Cây cải Tashkent…Song ở Thuỵ Anh, hình như đào xới cái ác không phải chủ đích của chị (cũng là của nhiều nhà văn khác hiện nay). Các câu chuyện ở văn xuôi Thuỵ Anh, từ đoản văn tới các sáng tác dầy dặn ở cấp độ cao hơn, dầy công hơn, đều cố gắng đánh thức tính thiện của con người. Đọc Thuỵ Anh xong, dù có man mác buồn, người đọc vẫn thấy không quá bi quan.






