Điện thoại bàn đổ chuông. Màn hình hiện số gọi tới: 021037…Đúng mã số làng quê bà vợ ngoài Phong Châu Đất Tổ! Theo quy ước “người Sài Gòn giành phần thanh toán cước phí đàm thoại đường dài”, tôi nhấn tắt, rồi nhấc tổ hợp, gọi lại 171021037…, không quên bấm nút “phôn” ra loa cho cả nhà nghe. Đầu dây bên kia cất lên cái giọng thuốc lào khê nồng của “ông” Phú: Ông bà ơi, giúp nhà cháu với. Thằng Dương chày cối không ăn lời cháu khuyên bảo Tết nhất tới nơi thôi đừng tha phương cầu thực. Cháu khô ruột héo gan với hai đứa con trai vô phúc “sinh vô gia cư, tử vô địa táng”…
Không đọc thì tri thức nghèo nàn và dễ thành kém văn hóa. Từ văn hóa hạn chế dễ trở thành thô lậu. Một bộ phận thậm chí thoái hóa thành ăn cắp. Người hèn kém ăn cắp vật tư, kẻ quyền cao chức trọng tham nhũng, ăn cắp của hàng triệu người. Người không có gì để thó thì ăn cắp thời gian hoặc ra đường trộm cây, bẻ hoa. Để cho thế hệ này không trộm cắp hoa có lẽ vẫn còn kịp, pháp luật nghiêm minh sẽ giúp họ thay đổi. Nhưng giáo dục cho thế hệ sau tránh lỗi lầm mà không cần nhiều đến luật pháp có thể làm từ bây giờ.
Nhiều nhà văn, nhà thơ tại TPHCM mà tôi quen biết vẫn thường than thở rằng, diện tích căn nhà mình đã không còn chỗ chứa sách, mà bán sách cũ thì không nỡ. Tại sao không san sẻ “bầu bí thương nhau” giữa người viết và người đọc? Tôi tin, chỉ cần một tổ chức nào đó, như Hội nhà văn TPHCM chẳng hạn, đứng ra phát động quyên góp sách từ các tác giả đang sinh sống tại thành phố thì hoàn toàn có thể gầy dựng hàng trăm tủ sách cho các tỉnh miền Tây Nam bộ.
Cuốn tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng hoàn thành vào tháng 12 năm 1982, tháng cận Tết. Và hai chương đầu của cuốn sách này là sự miêu tả cảnh đón Tết, ăn Tết ở một gia đình Hà Nội. Thời gian của sự kiện được bắt đầu từ: Như bây giờ, đang cữ đông rét mướt, lại là những ngày giáp Tết Nguyên đán..., và kết thúc ở đúng giao thừa: Giao thừa! Giao điểm của cũ mới, dấu chân của năm cũ, nốt nhạc đầu tiên của một hành khúc mới..., tức là chỉ trong khoảng một tuần lễ là tối đa. Một tuần lễ ấy, theo tôi, đã gom vào bản thân nó những nét chính đủ phác lên cảnh đón Tết, ăn Tết ở một giai đoạn chưa xa – những năm cuối thời bao cấp, đây là cảnh đón Tết, ăn Tết ở các gia đình cán bộ công nhân viên thuộc các thành phố miền Bắc thời ấy.
Nhà văn Nguyễn Quang Thân nói về nghiệp cầm bút: “Đó có thể là nhu cầu bức thiết của nội tâm, sự phát tiết của thiên năng hay mong muốn để lại một dấu ấn trong cuộc đời, tạo dựng một tên tuổi... Các nhà văn nói chung là thế, tôi cũng không ngoại lệ. Tôi chưa bao giờ xem viết văn là cuộc dạo chơi hay việc tầm phào, vui đâu chầu đấy. Viết văn - nhất là văn xuôi, là lao động khổ sai, đòi hỏi người viết phải có nghề và phải hao tốn nhiều tâm lực, thời gian...”
Vâng, đúng thế. Tất cả chỉ tại cái Chúa Xuân! Mùa xuân đến cũng có khác. Đầu tiên là khúc gỗ mục vẫn dành để luộc bánh còn thừa, vứt lăn lóc ở sau bếp, bỗng nảy lên một cái lộc biếc. Rồi cây cối đâm chồi. Hoa cỏ ngào ngạt. Hình như chúng đang toả hương để mê hoặc nhau, cám dỗ nhau. Thiên nhiên còn thế, huống hồ con người. Thảo nào lũ trai gái mâng mâng cứ cháy phừng phừng như những ngọn đuốc. Đến cả lũ gái làng cũng tươi nõn. Cặp môi ướt đỏ, bầu má chín ửng như những quả táo Tây, khiến những gã đứng đắn, có tiếng nghiêm trang như những vị thánh sống, bỗng trở thành những kẻ dâm dục, đồi truỵ, bởi đầu óc toàn nghĩ đến những chuyện mà các bậc túc nho xưa cho là bậy bạ.
Báo chí là nghề đến trước, văn chương là nợ duyên nợ kiếp nhưng đến sau. Năm 1989, Người gánh nước thuê - truyện ngắn đầu tiên của nhà văn Võ Thị Hảo xuất hiện trên báo Phụ nữ Thủ đô. Kể từ đó, mọi người biết đến Võ Thị Hảo với tư cách là một nhà văn hơn là nhà báo. Kể về truyện ngắn đầu tiên này, chị bảo, “Viết vì thương hai ông bà già gánh nước thuê rất khổ ở đầu ngõ. Thương mà cũng rất khổ tâm vì không làm gì để giúp được họ. Gia cảnh họ cứ ám ảnh mãi trong tâm trí, thế rồi viết”.
Nguyễn Bình Phương là nhà văn, nhà thơ đáng chú ý của văn học Việt Nam đương đại. Ở tiểu thuyết và thơ, Nguyễn Bình Phương đều tạo được nhiều dấu ấn và đóng góp riêng, rất đáng ghi nhận. Sáng tác tiểu thuyết từ năm 26 tuổi với tác phẩm đầu tay: Bả giời (1991), đến nay Nguyễn Bình Phương đã có đến bảy tác phẩm, trong đó đặc biệt thành công với Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thủy (2004) và gần đây nhất là Ngồi (2006). Dẫu chưa đủ để tạo bước đột phá quan trọng như Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài đã làm với thể loại truyện ngắn, song với sự tích hợp nhiều kiểu tư duy nghệ thuật và những thử nghiệm mới lạ về mặt hình thức trong các tác phẩm trên của Nguyễn Bình Phương, cho thấy, đây là một nhà văn có phong cách, là một hiện tượng lạ của tiểu thuyết Việt Nam hôm nay.
Báo Văn Nghệ Trẻ số Xuân Kỷ Sửu vừa phát hành với giá bán 28 ngàn đồng. Ngoài những bài vui vẻ ngày Tết, ấn phẩm đặc biệt này còn giới thiệu một phụ trương 12 truyện ngắn hay về đề tài nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Thử hé mắt qua, thấy cái bài báo “Thời sự làng tôi” từng in kèm với tiểu thuyết mi-ni “Đảo chìm” của nhà thơ Trần Đăng Khoa được vinh danh. Chưa hết, cái tạp văn “Trăm năm bến cũ con đò” của Nguyễn Ngọc Tư cũng được dự phần tự hào. Với cái phụ trương này, báo Văn Nghệ Trẻ đã có một đóng góp cực kỳ quan trọng cho văn học Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nói chung, đó là định nghĩa lại thuật ngữ truyện ngắn!
Nói đến thơ Nguyễn Bính, người đời thường ghi nhớ, truyền tụng nhiều bài thơ tình bất hủ của ông: Tương tư, Cô hàng xóm, Cô lái đò, Cô hái mơ, Lửa đò, Nhớ... Có lẽ ít ai biết bài thơ Cho tôi ly nữa. Bài thơ lúc đầu đăng trên báo "Tiểu thuyết thứ Năm", sau in trong tập "Tâm hồn tôi" (NXB Nguyễn Cường, 1940). Đó là sự say của một thi sĩ lớn, một tâm hồn lớn mang nặng nỗi đau đời. Cái hay, cái độc đáo là ở tứ thơ rất hồn nhiên, tình thơ phát triển theo từng cung bậc tâm sinh lý người say sau mỗi chén rượu





