KHÁM PHÁ THƠ HAIKU
LÊ THIẾU NHƠN
Với hơn 4000 tác phẩm nhận được, cuộc thi sáng tác Thơ Haiku kéo dài 1 tháng do Lãnh sự quán Nhật Bản tại TPHCM và Báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức, đã ít nhiều góp phẩn khơi mở cho công chúng một dòng thơ khá đặc biệt bắt nguồn từ xứ sở Phù Tang lan rộng khắp thế giới. Tuy nhiên, dù cố gắng đến đâu, thì kết quả thu hoạch được vẫn chỉ là bước đầu của một sự khám phá không hề đơn giản!
Thơ Haiku có thể xem như một sáng tạo đáng tự hào của văn học Nhật Bản. Thơ Haiku thu được nhiều thành tựu nhất ở thế kỷ 17 với thi sĩ Basho (1644-1694) mà nhiều người chúng ta cũng biết vài bài của ông như: “Cành cây trơ trụi/ Bóng tối mùa thu thẫm dần/ Một con quạ đơn độc” hay “Trên đầu gậy thiền sư/ Con chuồn chuồn/ Thiu thiu ngủ”. Thế nhưng, từ việc thưởng thức thơ Haiku đến chuyện sáng tác thơ Haiku có một khoảng cách rất đáng e ngại. Làm sao tối đa 17 chữ (“luật” cổ truyền là 17 âm, nhưng tiếng Việt đơn âm, nên mỗi âm tương đương một chữ) mà diễn tả được một tứ thơ hoàn chỉnh, quả là thách thức lớn đối với người làm thơ. Thật lòng, tôi hơi hồi hộp theo dõi cuộc thi, và đã thở phào tương đối nhẹ nhõm khi đọc được khá nhiều bài thơ “Haiku sản xuất tại Việt
Do cuộc thi khuyến khích sáng tác bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt, nên cũng chia cơ cấu giải thưởng làm hai mảng. Giải nhất viết thơ Haiku bằng tiếng Nhật thuộc về Trần Hồng Thục Trang với chùm thơ 6 bài viết về mùa xuân, tôi không biết tiếng Nhật đành nhường phần đánh giá cho những “chuyên gia”. Riêng mảng thơ Haiku viết bằng tiếng Việt lại không có giải nhất, mà có hai giải nhì đồng hại cho Nguyễn Thế Thọ (Đà Nẵng) và Trần Đức Việt (Bình Định) cùng 12 giải khác. Theo tôi, Ban tổ chức rụt rè không dám trao giải nhất là sự cẩn thận trên mức cần thiết, bởi lẽ thơ Haiku lần đầu tiên thi sáng tác ở nước ta thì không có cái “chuẩn” nào để e ngại. Hai tác giả đoạt giải nhì đồng hạng, tỏ ra ngang tài ngang sức, nếu Nguyễn Thế Thọ phát hiện “Đóa hướng dương/ Nhú trong vườn cỏ/ Ngày không mặt trời” thì Trần Đức Việt chia sẻ “Bé gái/ Nhặt mảnh chai/ Mơ chiếc hài cô Tấm”.
Trước đây, nhà thơ Lê Đạt cũng rất chăm chỉ sáng tác thể loại thơ ngắn tương tự như Haiku, mà ông tự đặt tên là Thơ HaiKâu. Cái khó của thơ ngắn nói chung, và thơ Haiku nói riêng, là phải có những khám phá rất tinh tế hoặc những liên tưởng rất xa rộng. Trong những bài Haiku dự thi, tôi vừa thích vừa tiếc 12 chữ của Hà Thiên Sơn “Đảo hoang/ Chim én về làm tổ/ Nhựa ấm dần trong cây”. Thích vì sức sống ở năm chữ cuối, nhưng lại tiếc hai chữ đầu chưa thật “đắt”. Nếu tôi mà chớp được cái ý trên thì tôi sẽ viết: “Cành khô/ Chim én về làm tổ/ Nhựa ấm dần trong cây” thì sự hồi sinh sẽ rõ ràng hơn.
Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu, một giảng viên văn học Nhật Bản, cho rằng: “Thơ Haiku thật kỳ diệu, vì cái tài của nhà thơ không nằm ở việc vẽ rồng, vẽ phụng mà vẽ những sự vật gần gũi, hiện thực mà vượt qua hiện thực”. Với cuộc thi sáng tác thơ Haiku vừa kết thúc, đời sống văn hóa đã có thêm một thú chơi tao nhã, khám phá vẻ đẹp thường hay bị lãng quên giữa đời sống. Hiện nay phong trào sáng tác thơ Haiku ở nhiều nước phương Tây rất được ưa chuộng, và chúng ta cũng đang mở ra một tiền lệ đáng mừng.
Suy nghĩ về thơ hôm nay
Gặp lại nụ cười răng trắng


