Giữa Valéry và nhóm siêu thực tương đồng với nhau ở điểm chính là thơ không tả cảnh, tả tình, thơ phải khám phá nội tâm, diễn đạt những tác động vô hình vào tâm trạng. Thơ đi sâu phản ảnh tiếng nói của thâm tâm (vô thức, tiềm thức và ý thức). Một số người phàn nàn thơ Valéry khó hiểu như những hình bóng chập chờn, lờ mờ. Paul Valéry trả lời: “Theo ý tôi, ánh sáng hiếm hoi trên khắp thế giới – đặc biệt trong thế giới tư tưởng và văn chương – người ta thấy nó ít ỏi như kim cương so sánh với toàn khối đất đá của hành tinh”.






PAUL VALÉRY NHÀ THƠ TIẾP BƯỚC SAU TRƯỜNG PHÁI TƯỢNG TRƯNG

TRIỆU TỪ TRUYỀN

Paul Valéry sinh tại Sète, bên bờ Địa Trung Hải vào năm 1871, học luật tại trường đại học Montpellier. Ông làm thơ lúc còn đi học, chịu ảnh hưởng của Stéphane Mallarmé. Từ năm 1892 đến năm 1897, các sáng tác của ông theo trường phái tượng trưng đăng trên tạp chí La Conque (tên một loài ốc bỏ ruột, áp tai vào nghe như có tiếng chuông vang ra. Theo thần thoại Hy Lạp, hải thần Triton đầu người mình cá lấy vỏ ốc này làm tù và) và tạp chí La Centaure (quái vật đầu người mình ngựa), hai diễn đàn của các cây bút tiên tiến bấy giờ.
Sau đó, với khát vọng vận dụng trí tuệ theo thi hứng, tìm tòi những gì không diễn đạt bằng lời nói, muốn vượt qua cách nhìn nhận sự vật do kinh nghiệm định kiến làm cho bị lệch lạc, sáo mòn, Paul Valéry yên lặng suốt hai mươi năm, nghiên cứu để tiếp cận chân lý tuyệt đối, đặt thi ca liên hệ với các sáng tác khác của trí tuệ.

Năm 1917, trường ca 500 câu có tên “Cô Gái Trẻ Parque” (La Jeune Parque), diễn tả trạng thái từ ngủ đến thức của ý thức, tập thơ nổi tiếng nhất của Paul Valéry. Năm 1922, tập thơ “Quyến Rũ” (Charmes) ra đời, tiêu biểu cho bút pháp của nhà thơ, và các tập thơ khác: “Album De Vers Anciens” (1920); “Eupalinos Ou l’ Architecte” (1923); “L’ âme et la danse” (1923); “Cimentière Marin” (1920)…
Khi được bầu vào Hàn Lâm Viện năm 1925, ông nói: “Tư tưởng phải tiềm tàng trong câu thơ, như hiệu năng bổ dưỡng trong trái cây”. Paul Valéry khuyên các nhà thơ phải tỉnh táo, nắm vững lý trí, không nên để cho ngẫu hứng làm mê loạn. Ngâm thơ là sinh hoạt trí tuệ, không đơn thuần diễn đạt rung động của con tim.

Một đoạn thơ của Paul Valéry:
“…
Nous marchions comme des fiancés
Seul,dans la nuit verte des prairies
Nous partagions ce fruit des féeries
La lune amicale aux insensés
Et puis, nous somme morts sur la mousse
Très loin, tout seuls parmi l’ ombre douce
De ce bois intime et murmurant;”
Tạm dịch:
Chúng mình đi như đôi tình nhân sắp cưới
Chỉ một mình trong bãi cỏ đêm xanh
Chúng mình chia nhau cây trái thánh thần
Trăng thân thiết với nỗi niềm ngây dại
Rồi cùng chết trên vùng rêu phủ
Rất xa khơi, đêm dịu dàng vây kín cô đơn
Trong sâu kín và thầm thì riêng rừng ấy.

Đoạn thơ trên được trích trong bài “Cánh Rừng Thân” (La bois amical). Muốn nói nỗi cô đơn tuyệt đối, Valéry lại dùng hình tượng cánh rừng, nhiều cây san sát bên nhau nhưng không đồng cảm. Hình tượng hai người yêu nhau, sắp cưới nhau (fiancés) mà vẫn cô đơn, dù đi kề bên nhau. Toàn thể bài thơ toát lên một triết lý hoài nghi: sống không dễ hiểu nhau dù cận kề nhau đến chết.
Paul Valéry rất gần với Mallarmé, người đứng đầu trường phái tượng trưng được các nhà phê bình văn học cho rằng đã ảnh hưởng lớn đến Paul Valéry. Đoạn thơ của Mallarmé dưới đây trích trong bài “Les Fenêtres” (Cửa Sổ):

“Est-il moyen. Ô moi qui connais l’ amertume
D’ enfoncer le cristal par le monstre insulté
Et de m’ enfuir, avec mes deux ailes sans
plume
- Au risque de tomber pendant l’ éternité!

Tạm dịch:
Ta nếm đắng cay, có cách thóat chăng
Quái vật chửi rủa – tinh thể vỡ tan
Cánh không lông ta cao bay trốn chạy
- Nên rủi ro rơi xuống cõi vĩnh hằng.

Để làm rõ hơn bút pháp của Paul Valéry, xin trích một đoạn thơ của Baudelaire trong bài thơ “L’âme Du Vin” (Hồn Rượu):

Un soir, l’ âme du vin chantait dans les
bouteilles:
“Homme, vers toi je pousse ô cher déshérité
sous ma prison de verre et mes cires
vermeilles
Un chant plein de lumière et de fraternité”.

Tạm dịch:
Một chiều hồn rượu hát từ chai
Ta gởi người hỡi phận đắng cay
Tù ngục bằng chai và sáp đỏa
Lời ca toả sáng, nghĩa tình đầy.

Đoạn thơ trên nhiều nhạc điệu trực tiếp gợi cảm xúc, dễ hiểu dễ nhớ, Baudelaire giao cảm với nhiều thế hệ bạn đọc, còn Paul Valéry thâm thúy, nặng chiều sâu của tư duy.

Đến năm 1891, nhóm tượng trưng tan rã, dòng thơ tượng trưng chia hai ngả: một hướng theo Mallarmé dẫn đến Valéry đỉnh cao của trường phái tượng trưng vào thế kỷ 20. Ngã thứ hai theo hướng Arthur Rimbaud, Guillaume Appolinaire phát nguồn cho trường phái siêu thực sau này. Giữa Valéry và nhóm siêu thực tương đồng với nhau ở điểm chính là thơ không tả cảnh, tả tình, thơ phải khám phá nội tâm, diễn đạt những tác động vô hình vào tâm trạng. Thơ đi sâu phản ảnh tiếng nói của thâm tâm (vô thức, tiềm thức và ý thức). Một số người phàn nàn thơ Valéry khó hiểu như những hình bóng chập chờn, lờ mờ. Paul Valéry trả lời: “Theo ý tôi, ánh sáng hiếm hoi trên khắp thế giới – đặc biệt trong thế giới tư tưởng và văn chương – người ta thấy nó ít ỏi như kim cương so sánh với toàn khối đất đá của hành tinh”.
Giúp người đọc cảm nhận ngôn ngữ thơ, Valéry so sánh thơ với truyện. Thơ đối lập với thể mô tả và kể lể biến cố. Nhà thơ phải tạo ra một vũ trụ thơ, ý nghĩa không phải là yếu tố chính đối với nhà thơ, trong khi đối với nhà viết truyện thì ý nghĩa là chính yếu. Nghĩa là làm thơ để cảm chứ không phải để phân tích. Hiệu quả của lời thơ phải tự nhiên như hiệu quả thẩm mỹ khác. Thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ.

Một học giả Pháp nhận định: “Valéry đã khai sinh cho thơ triết lý, thơ đa cảm của phái lãng mạn, cũng như thơ vô tình của phái Thi Sơn. Sau 900 năm lịch sử văn hóa Pháp, Paul Valéry đã quan niệm thơ rất độc đáo, khác với tất cả những người đi trước và phần đông lớp đi sau”.
Năm 1945, Paul Valéry từ trần tại Paris, được hưởng vinh dự quốc tang. Theo quan niệm của Paul Valéry, nghệ thuật chẳng những là nguồn vui độc nhất, lẽ sống của con người, nó còn giúp cho con người biểu hiện tài năng thiết kế mọi lĩnh vực của cuộc đời. Nghệ thuật giúp con người thi thố sáng tạo so với cả Tạo Hóa. Giáo sư J. Hyter, nhà nghiên cứu văn học sử hiện đại ca ngợi Paul Valéry là thiên tài ưu tú nhất của nước Pháp.
Bài viết này không đi sâu nhằm tìm ra mặt tốt hay mặt hạn chế của trường phái tượng trưng, cũng như quan niệm thơ ca của Valéry mà chỉ nhằm giới thiệu một phong cách biểu hiện giống như trao một chìa khóa cho những ai muốn bước vào vườn thơ của Paul Valéry.


Trích “Những chữ qua cầu tâm linh” – NXB Văn Học 2008

| Thảo luận(0)
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất